Thuật ngữ “công nghiệp phụ trợ” được sử dụng rộng rãi, đặc biệt ở các nước Đông Á. Tuy nhiên, khái niệm công nghiệp phụ trợ chưa hình thành một cách hiểu thống nhất trong các lý thuyết kinh tế cũng như trên thực tế, nhìn chung vẫn chưa hình thành các chuẩn để quan niệm thế nào về công nghiệp phụ trợ. Junichi Mori (2005) cho rằng có hai cách tiếp cận đối với khái niệm công nghiệp phụ trợ: từ lý thuyết kinh tế và từ thực tiễn sản xuất kinh doanh. Theo lý thuyết kinh tế, công nghiệp phụ trợ được định nghĩa là các ngành sản xuất đầu vào (manufactured inputs). Hàng hóa, sản phẩm sau cùng được tạo ra từ những quá trình sản xuất và lắp ráp các đầu vào. Công nghiệp phụ trợ chính là những ngành sản xuất các sản phẩm đầu vào, gồm: - Các sản phẩm, hàng hóa trung gian (intermediate goods). - Các sản phẩm, hàng hóa phục vụ quá trình sản xuất (capital goods). Việc phân biệt hàng hóa trung gian và hàng hóa phục vụ quá trình sản xuất phụ thuộc vào hình thức chuyển hóa của những hàng hóa này vào trong sản phẩm cuối cùng. Như trong sản xuất hàng điện tử tiêu dùng, các linh kiện lắp ráp được xem như hàng hóa trung gian, trong khi máy móc, thiết bị sản xuất các linh kiện ấy được xem như hàng hóa phục vụ quá trình sản xuất.Trong thực tiễn sản xuất kinh doanh, có hai cách hiểu về công nghiệp phụ trợ. Ở góc độ hẹp, công nghiệp phụ trợ là các ngành sản xuất phụ tùng linh kiện phục vụ cho công đoạn lắp ráp ra sản phẩm hoàn chỉnh. Ở góc độ rộng hơn, công nghiệp phụ trợ được hiểu như toàn bộ các ngành tạo ra các bộ phận của sản phẩm cũng như tạo ra các máy móc, thiết bị hay những yếu tố vật chất nào khác góp phần tạo thành sản phẩm. Khái niệm công nghiệp phụ trợ trên thực tế chủ yếu sử dụng trong các ngành công nghiệp có sản phẩm đòi hỏi sự kết nối của nhiều chi tiết phức tạp đòi hỏi tính chính xác cao, dây chuyền sản xuất đồng loạt với các công đoạn lắp ráp tách biệt. Hai ngành công nghiệp hay sử dụng nhiều khái niệm công nghiệp phụ trợ là ngành ô tô và điện tử. Tuy nhiên, nếu đặt góc nhìn rộng hơn, công nghiệp phụ trợ phải được hiểu một cách tổng quát như một hình dung về toàn bộ quá trình sản xuất nói chung, chứ không thể bổ dọc, cắt lớp theo ngành hay sản phẩm vì mỗi ngành, mỗi loại sản phẩm đều có những đặc thù riêng và đều có những đòi hỏi ở các mức độ khác nhau về yếu tố phụ trợ.
Supporting Industries / Công Nghiệp Phụ Trợ
Thuật Ngữ
09-10-2025
Chia sẻ bài viết
Nội Dung Liên Quan Đến Thuật Ngữ
Second - Prefered Stock (Junior Stock) / Chứng Khoán Ưu Đãi Hạng Nhì
09-10-2025
Chứng khoán ưu đãi hạng nhì là loại chứng khoán ưu đãi dưới mức "chứng khoán ưu đãi" (Prefered stock) liên quan đến việc chi trả cổ tức và thu hồi vốn khi thanh lý tài sản. Cũng giống như cổ phiếu ưu đãi khác, người sở hữu chứng khoán ưu đãi thứ cấp này được hưởng mức cổ tức cố định hàng năm dù công ty làm ăn thua lỗ hay có lợi nhuận, được ưu tiên thanh toán trước khi công ty phá sản và không có quyền tham gia biểu quyết hay quản lý công ty (tuy nhiên cũng có loại "cổ phiếu ưu đãi" đặc biệt về…Forward P/E / PE Dự Tính
09-10-2025
Forward P/E được tính bằng công thức:PE dự tính = Giá thị trường của cổ phiếu : EPS kì vọngMức thu nhập được sử dụng là mức đự tính và không đáng tin cậy bằng các số liệu về mức thu nhập hiện tại. Tuy nhiên PE dự tính vẫn có lợi trong việc phân tích.Seasoned Public Offering/ Follow-On Offering/ SPO / Phát Hành Cổ Phần Sau IPO
09-10-2025
SPO là thuật ngữ mô tả việc một doanh nghiệp đại chúng phát hành cổ phần rộng rãi cho công chúng sau khi đã tiến hành IPO. Nói cách khác, nếu như IPO là thuật ngữ ám chỉ lần đầu tiên doanh nghiệp phát hành cổ phần mới và bán ra rộng rãi cho công chúng, thì SPO áp dụng cho tất cả các lần phát hành sau đó.Forward Market / Thị trường kì hạn
09-10-2025
Thị trường mà hãng giao dịch đồng ý giao tiền, hàng hóa hoặc công cụ tài chính với mức giá cố định vào một ngày cụ thể trong tương lai. Hầu hết những hợp đồng tương lai đều thực hiện một giao vào một ngày cụ thể trong tương lai, ví dụ, một tuần từ ngày giao dịch, một tháng..Những hợp đồng với kì hạn dài có bản chất đầu cơ và rủi ro đáng kể.
