Phân phối thứ cấp, xét riêng về khía cạnh tài chính, là hình thức bán lại chứng khoán đã phát hành trước đây do các nhà đầu tư lớn thường là các công ty, tổ chức hay những công ty được sáp nhập. Nó khác với phân phối sơ cấp, chứng khoán được phát hành đầu tiên, lúc này người bán là công ty phát hành. Hoạt động phân phối thứ cấp thường do Ngân hàng đầu tư xử lý, hoặc là một mình hoặc là cùng một số tổ chức tài chính khác, đứng ra mua của công ty phát hành với giá thỏa thuận, sau đó bán lại số chứng khoán đó với giá cung ứng ra công chúng cao hơn để kiếm lợi nhuận chênh lệch, gọi là spread. Bởi vì việc cung ứng phải đăng ký với cơ quan nhà nước, nên nhà quản lý nhóm cung ứng thứ cấp này (Ngân hàng đầu tư) củng cố hay giữ giá thị trường một cách hợp pháp bằng cách đặt mua cổ phần trong thị trường tự do mua bán chứng khoán. Người mua cung ứng loại chứng khoán này không phải trả bất kỳ khoản hoa hồng nào do mọi chi phí người bán chịu. Trong lịch sử phân phối thứ cấp, trường hợp có cấp độ phân phối lớn nhất là của tổ chức Ford Foudation khi mua chứng khoán của công ty Ford Motor năm 1956, một khoản tương đương $658 triệu, do 7 công ty xử lí theo thỏa hiệp liên kết quản lý; và lượng cổ phần bán ra của Howard Hughes, $566 triệu, thông qua các công ty đầu tư Merrill Lynch, Pierce, Fenner & Smith năm 1966. Phân phối thứ cấp hoàn toàn khác với thị trường thứ cấp. Ở thị trường thứ cấp các chứng khoán được mua bán tiếp theo nhiều lần sau lần phát hành đầu tiên trên thị trường sơ cấp, nó được mua bán tự do giữa các nhà đầu tư và giá cả chứng khoán lên hay xuống là do cung cầu chứng khoán (định giá cao hay thấp giá trị cổ phần của công ty phát hành), và các nhà đầu tư sẽ kiếm được lợi nhuận dựa vào việc bán cổ phiếu với giá cao hơn khi mua vào. Nhưng ở phân phối thứ cấp thì cổ phiếu một công ty khi phát hành thường được mua theo hình thức bao tiêu, tức là mua hết mua trọn gói lượng cổ phiếu đó với giá thỏa thuận, sau đó chính công ty đầu tư bao tiêu đó lại bán ra thị trường tự do với lượng và mức giá do họ kiểm soát, có thể coi họ là những nhà phát hành thứ cấp.
Secondary Distribution / Phân Phối Thứ Cấp
Thuật Ngữ
09-10-2025
Chia sẻ bài viết
Nội Dung Liên Quan Đến Thuật Ngữ
Forwards And Futures Markets / Thị Trường Kỳ Hạn Và Giao Sau Tiền Tệ
09-10-2025
Không giống như thị trường giao ngay, thị trường kỳ hạn và giao sau không giao dịch tiền tệ thật sự, thay vào đó, họ giao dịch các hợp đồng mà đại diện cho các quyền sở hữu đối với một loại tiền tệ xác định ở một mức giá xác định trên mỗi đơn vị tiền tệ và một ngày thanh toán xác định trong tương lai.Trong thị trường kỳ hạn, các hợp đồng được mua và bán trên OTC giữa 2 chủ thể, chính họ sẽ quyết định kỳ hạn của các hợp đồng.Trong thị trường giao sau, các hợp đồng giao sau được mua bán dựa trên…Support / Mức Hỗ Trợ
09-10-2025
Trong phân tích kỹ thuật, mức hỗ trợ, cùng với mức kháng cự, là những mức giá cơ bản xuất hiện trên hầu hết mọi đồ thị phân tích.Mức hỗ trợ là mức giá mà tại đó số người mua tham gia vào thị trường đủ lớn để áp đảo số lượng người bán.Thị trường luôn ghi nhớ những diễn biến về giá cả trong giai đoạn trước. Khi giá xuống chạm một mức thấp mới, rồi lại hồi phục trở lại, những người mua thấy tiếc rẻ vì đã không mua được chứng khoán khi giá chạm đáy lần đầu tiên này sẽ có xu hướng mua vào nếu giá…Forward rate agreement (FRA) / Hợp đồng lãi suất tương lai
09-10-2025
Hợp đồng hai bên đồng ý lãi suất sẽ trả được vào một ngày thanh toán trong tương lai. Ví dụ, kì hạn hợp đồng được nêu là sáu tháng so với chín tháng, lãi suất cho kỳ hạn ba tháng được bắt đầu trong kì hạn sáu tháng.Secondary Banks / Các Ngân Hàng Thứ Cấp
09-10-2025
Một cụm thuật ngữ dùng để chỉ một nhóm lớn các tổ chức tài chính chuyên nhận tiền gửi, rất nhiều tổ chức trong số đó là chi nhánh hoặc có liên quan đến các ngân hàng thanh toán bù trừ, nhà buôn, ngân hàng nước ngoài mọc lên nhanh chóng trong những năm 1960 và đầu những năm 1970 được trợ giúp bởi những quy định về số lượng đối với các ngân hàng thanh toán bù trừ.Forward Rate / Tỷ Giá Hối Đoái Định Trước; Tỷ Giá Hối Đoái Kỳ Hạn
09-10-2025
Tỷ giá hối đoái theo đó một đồng tiền có thể được mua hay bán để được giao trong tương lai trên thị trường kỳ hạn.
