Đây là lý thuyết cho rằng lượng cung tiền tệ và mức giá chung trong nền kinh tế có mối quan hệ trực tiếp với nhau. Iriving Fisher là người đầu tiên đưa ra phương trình thể hiện mối quan hệ này. Phương trình Fisher có dạng: MV = PT Trong đó M là khối lượng tiền tệ, V là tốc độ lưu thông tiền tệ (số lần bình quân mỗi đồng tiền được trao tay để thanh toán các giao dịch trong một năm) , P là mức giá chung (thường tính bằng chỉ số giá IP), và T là khối lượng giao dịch hay tổng giá trị hàng hoá và dịch vụ cung ứng. Mối quan hệ trên đúng theo định nghĩa, vì tổng chi tiêu bằng tiền để mua hàng hoá và dịch vụ trong một thời kì (MV) phải bằng giá trị của hàng hoá và dịch vụ do người bán cung cấp, và bốn yếu tố M, V, P, T sẽ được xác định theo cách làm cho biểu thức này luôn đúng. Người ta có thể chuyển phương trình trên về dạng phương trình có khả năng kiểm định được bằng cách giả định rằng tốc độ lưu chuyển tiền tệ là một hằng số hoặc chỉ thay đổi nhẹ, không đáng kể. Phương trình chuyển đổi này có tên là phương trình Cambridge, có dạng : V= Y/M Trong đó V là bình quân số lần tiền được chuyển từ tay người này sang người khác để mua hàng hoá và dịch vụ cuối cùng (Y). Ví dụ nếu tổng sản phẩm quốc dân Y của một nước bằng 5 tỷ đôla và khối lượng tiền tệ bình quân M trong một năm là 1 tỷ đôla thì khi đó V=5. Do không thể quan sát trực tiếp được tốc độ lưu thông tiền tệ nên người ta phải xác định nó thông qua Y và M các chỉ tiêu có thể thu thập từ thống kê của nhà nước.Khái niệm V trong phương trình Cambridge không giống với khái niệm V trong lý thuyết số lượng tiền tệ truyền thống của Fisher. Nếu biến đổi phương trình của Fisher chúng ta được : V = PT/M Số lần giao dịch T trong một thời kì bao gồm toàn bộ các vụ giao dịch hiện vật về hàng hoá, dịch vụ và các giao dịch về tài chính. Trong phương trình Cambridge, PT (mức giá bình quân) được thay bằng Y một đại lượng không bao gồm tất cả mọi giao dịch, mà chỉ bao gồm các giao dịch đem lại thu nhập cuối cùng. Các nhà kinh tế cổ điển lập luận rằng tốc độ lưu thông là một hằng số vì người tiêu dùng có những thói quen tiêu dùng tương đối cố định và do vậy vòng quay của tiền tệ nằm trong trạng thái dừng. Những người ủng hộ lý thuyết số lượng hiện nay không quả quyết rằng tôc độ lưu thông tiền tệ cố định, nhưng họ lập luận rằng tốc độ lưu thông có thể thay đổi chậm chạp theo thời gian do những đổi mới trong lĩnh vực tài chính, chẳng hạn việc sử dụng rộng rãi tài khoản ngân hàng, thanh toán qua thẻ tín dụng và séc. Họ cũng chỉ ra rằng trong nền kinh tế toàn dụng lao động thì khối lượng giao dịch T sẽ bị quy định bởi những cân nhắc từ phía cung, ví dụ xu thế tăng năng suất lao động. Nếu V và T cố định hoặc thay đổi một cách chậm chạp, mức giá sẽ được xác định chủ yếu bằng mức cung tiền tệ (M). Mọi sự gia tăng trong khối lượng tiền tệ sẽ trực tiếp làm tăng nhu cầu hàng hoá và dịch vụ. Từ đó có thể kết luận rằng nếu cung ứng tiền tệ và tổng cầu tăng nhanh hơn khả năng cung ứng hàng hoá và dịch vụ của nền kinh tế thì mức giá chung sẽ tăng, tức là sẽ có lạm phát xảy ra. Trái lại, các nhà kinh tế học thuộc trường phái Keynes lập luận rằng tốc độ lưu thông không ổn định, có thể thay đổi nhanh chóng và trung hoà những ảnh hưởng của thay đổi trong cung ứng tiền tệ.
Quantity Theory Of Money / Lý Thuyết Số Lượng Tiền Tệ
Thuật Ngữ
09-10-2025
Chia sẻ bài viết
Nội Dung Liên Quan Đến Thuật Ngữ
Quant Funds / Quỹ Quants
09-10-2025
Các quỹ này được đặt tên như vậy là do cách đầu tư theo phương pháp tính toán thuần tuý - mục tiêu của họ là nhằm thu được lợi nhuận cao vượt trội so với các quỹ đầu tư theo chỉ số. Các quỹ này thường sử dụng phân tích thống kê toán theo mô hình để quyết định loại chứng khoán nào sẽ tối đa hoá hiệu quả đầu tư.S&P/Asx 200 / Chỉ Số S&P / Asx 200
09-10-2025
Là chỉ số mức vốn hóa được sử dụng nhiều nhất của Úc, được bắt đầu từ tháng 4 năm 2000. Nó đã thay thế chỉ số giá trị vốn hóa thị trường (All Ordinaries Index) trên sàn giao dịch chứng khoán Úc (Asx) để trở thành công cụ quan trọng nhất đánh giá hoạt động trên sàn giao dịch.Quality Function Deployment / QFD / Triển Khai Chức Năng Chất Lượng
09-10-2025
Triển khai chức năng chất lượng (QFD) là một kĩ thuật đưa ra quyết định nhóm toàn diện và linh hoạt được sử dụng trong việc phát triển các sản phẩm và dịch vụ, tiếp thị thương hiệu và quản lý sản phẩm.QFD có thể có tác dụng rất lớn trong việc giúp một tổ chức tập trung vào các đặc điểm bị phê phán của một sản phẩm, dịch vụ mới hoặc sẵn có với những quan điểm khác nhau của các phân khúc thị trường khách hàng, công ty hay yêu cầu phát triển công nghệ. Kết quả của kĩ thuật này mang lại những ma…Ex Post / Từ Sau; Sau Đó
09-10-2025
Sau khi xảy ra một sự kiện nào đó hoặc sau một quyết định thực hiện một việc gì đó.S&P 500 / Chỉ Số S&P 500
09-10-2025
Một chỉ số bao gồm 500 loại cổ phiếu được lựa chọn từ 500 công ty có mức vốn hóa thị trường lớn nhất của Mỹ. Chỉ số S&P 500 được thiết kế để trở thành một công cụ hàng đầu của thị trường chứng khoán Mỹ và có ý nghĩa phản ánh những đặc điểm rủi ro/lợi nhuận của các công ty hàng đầu.Các công ty được lựa chọn để đưa vào chỉ số được lựa chọn ra bởi Ủy ban Chỉ số S&P, một nhóm các nhà phân tích và nhà kinh tế của Standard & Poor.
