Tòa SA5 Vinhomes Smart City Tây Mỗ, Nam Từ Liêm, Hà Nội.
Hotline / Zalo: 0966.246.800
Email: letam.calico@gmail.com
Dẫn đường: Đến Goolge Map

Financial Statements Analysis: Activity / Chỉ Tiêu Tài Chính Với Hoạt Động Kinh Doanh

Thuật Ngữ 09-10-2025

Các chỉ tiêu tài chính với hoạt động kinh doanh được xây dựng để đo lường hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản của doanh nghiệp. Mức độ đầu tư vào tại sản của doanh nghiệp phụ thuộc nhiều yếu tố. Bởi vậy, ``mức độ đầu tư thế nào là phù hợp?'' trở thành câu hỏi quan trọng. Điểm hợp lý để bắt đầu tìm lời giải đáp là so sánh giá trị tài sản với doanh số thu về trong cùng thời gian đầu tư và sử dụng tài sản. Mục tiêu của việc này là xác định hiệu quả sử dụng tài sản để tạo ra doanh thu. Chỉ tiêu tổng doanh thu tài sản. Chỉ tiêu tổng doanh thu tài sản được xác định qua việc chia tổng doanh thu từ hoạt động kinh doanh trong kỳ kế toán cho bình quân tổng tài sản. Lưu ý: để đơn giản, có thể sử dụng giá trị tổng tài sản cuối kỳ để tính toán. Chỉ số này có xu hướng chỉ ra mức độ hiệu quả trong sử dụng tài sản của doanh nghiệp. Nếu chỉ số tổng doanh thu tài sản cao, có thể cho rằng doanh nghiệp đã sử dụng tài sản tạo ra doanh thu hiệu quả. Nếu chỉ số này thấp, doanh nghiệp chưa khai thác hết công suất các tài sản hiện có, do đó, cần tăng doanh số hoặc bán bớt tài sản. Một vấn đề thường gặp phải với chỉ số này là việc tận dụng tối đa các tài sản cũ bởi giá trị kế toán của các tài sản này luôn thấp hơn các tài sản mới và có cùng công năng sử dụng. Tuy vậy, cần lưu ý tới vấn đề công nghệ ở đây. Ngoài ra, cũng có những doanh nghiệp do đặc thù kinh doanh mà có mức độ đầu tư tương đối bé cho tài sản. Doanh nghiệp thương mại thường có chỉ số tổng tài sản doanh thu nhỏ hơn khi so sánh với doanh nghiệp sản xuất. Vậy nên, chớ đem so táo với cam! Doanh số phải thu. Chỉ tiêu doanh số phải thu được tính bằng cách chia doanh số cho bình quân các khoản phải thu trong kỳ kế toán. Chia số ngày trong năm (365) cho chỉ tiêu doanh số phải thu sẽ tính được thời gian thu tiền bán hàng bình quân của doanh nghiệp. Các khoản phải thu ròng được sử dụng trong tính toán các chỉ số trên. (Phải thu ròng được tính bằng các khoản phải thu trừ đi dự phòng nợ khó đòi và nợ xấu.) Chỉ tiêu doanh số phải thu và thời gian thu tiền bán hàng bình quân cung cấp thông tin về thành công của doanh nghiệp trong quản lý các tài khoản phải thu. Giá trị thực tế của các chỉ số này phản ánh chính sách tín dụng của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp có chính sách tín dụng tự do, khối lượng các khoản phải thu sẽ lớn hơn các trường hợp khác. Một nguyên tắc thường được những người phân tích tài chính áp dụng là thời gian thu tiền bán hàng bình quân không nên nhiều hơn thời gian trả chậm theo các điều khoản tín dụng trên 10 ngày. Doanh số tồn kho. Chỉ tiêu doanh số tồn kho được tính bằng cách chia giá vốn hàng bán cho giá trị hàng tồn kho bình quân. Do luôn được phát biểu như một chi phí trong quá khứ, giá vốn hàng bán được sử dụng thay cho doanh số (doanh số bao gồm cả phần lợi nhuận và biến đổi theo giá bán hiện tại). Số ngày trong năm chia cho tỉ số doanh số tồn kho chính là chỉ số ngày tồn kho. Chỉ số này là số ngày cần thiết để hàng hóa được sản xuất và bán; còn được gọi là ngày trên kệ trong các doanh nghiệp thương mại bán buôn và bán lẻ. Các chỉ số hàng tồn kho đo lường thời gian hàng hóa được sản xuất và bán đi. Các chỉ số này chịu tác động rõ rệt của công nghệ sản xuất. Cần nhiều thời gian để chế tạo ô tô hơn so với việc làm ra một ổ bánh mỳ. Các chỉ số này còn chịu ảnh hưởng từ thời gian sử dụng của chính sản phẩm. Một sự gia tăng đáng kể của số ngày tồn kho có thể là dấu hiệu đáng ngại vè mức tồn kho cao của các hàng hóa thành phẩm chưa bán được hoặc thay đổi trong quá trình hoàn thành sản phẩm của doanh nghiệp (cần nhiều thời gian hơn để sản xuất sản phẩm). Phương pháp xác định giá trị hàng tồn kho, lẽ tự nhiên, tác động tới các chỉ số hàng tồn kho được tính toán. Do vậy, người phân tích tài chính nên nhận thức rõ về sự khác biệt giữa các phương pháp xác định giá trị hàng tồn kho và tác động thay đổi của mỗi phương pháp tới các chỉ số tồn kho.

Chia sẻ bài viết

Nội Dung Liên Quan Đến Thuật Ngữ

Financial Statement / Báo Cáo Tài Chính

Financial Statement / Báo Cáo Tài Chính

09-10-2025

Báo cáo tóm tắt tình hình tài chính của một câ nhân , công ty hoặc tổ chức kinh doanh. Những báo cáo mà bên cho vay là ngân hàng sử dụng thường xuyên khi cấp khoản vay là bảng cân đối kế toán (tài sản, nợ phải trả và giá trị ròng vào một ngày cụ thể); báo cáo thu nhập tóm tắt thu nhập và chi phí; và những báo cáo luân chuyển tiền tệ tóm tắt các nguồn thu và sử dụng các quỹ trong năm đó.
Eurozone / Khu Vực Đồng Euro

Eurozone / Khu Vực Đồng Euro

09-10-2025

Khu vực đồng Euro (eurozone) là một nhóm các nước thành viên của Liên minh Châu Âu sử dụng đồng Euro làm đơn vị tiền tệ chính thức. 13 thành viên chính thức của khu vực này là Áo, Bỉ, Bồ Đào Nha, Đức, Hà Lan, Hy Lạp, Ireland, Luxembourg, Pháp, Phần Lan, Tây Ban Nha, Ý và Slovenia.Một vài quốc gia khác cũng đã tham gia vào liên minh tiền tệ với thành viên trong khu vực đồng Euro và vì vậy cũng đưa đồng Euro vào sử dụng như là tiền tệ chính thức.
European Unit Of Account / Đơn Vị Kế Toán Châu Âu

European Unit Of Account / Đơn Vị Kế Toán Châu Âu

09-10-2025

Là đơn vị kế toán được sử dụng trong CỘNG ĐỒNG CHÂU ÂU cho các mục đích như chuẩn bị ngân sách công đồng và định giá sản phẩm nông nghiệp thông qua CHÍNH SÁCH NÔNG NGHIỆP CHUNG. Vì các nước thành viện của EU sử dụng các đồng tiền khác nhau, nên cần thiết phải tạo ra một đơn vị kế toán chung để trao đổi buôn bán công đồng.
European Social Fund / Quỹ Xã Hội Châu Âu

European Social Fund / Quỹ Xã Hội Châu Âu

09-10-2025

Một quỹ đặc biệt của CỘNG ĐỒNG CHÂU ÂU, nhằm mục đích tăng cường cơ hội tìm kiếm việc làm trong cộng đồng bằng cách đảm bảo hỗ trợ tài chính để đào tạo lại công nhân, đặc biệt là những ai bị thu hẹp công việc do hoạt động của Thị trường chung Châu Âu.
Financial Modeling / Mô Phỏng Tài Chính

Financial Modeling / Mô Phỏng Tài Chính

09-10-2025

Mô phỏng tài chính là một công việc quen thuộc của giới kinh doanh, đầu tư và tài chính chuyên nghiệp. Bản chất của việc mô phỏng tài chính là sử dụng các kỹ thuật tính toán số về tài chính (numerical computation) để xây dựng một bức tranh trong tương lai về tình trạng tài chính, vận hành tài chính và hiệu quả tài chính của: (i) Doanh nghiệp; (ii) Dự án; (iii) Khoản hay danh mục đầu tư; (iv) Công việc đang triển khai; và, (v) Tài chính cá nhân-gia đình.Việc mô phỏng tài chính được hình thành…
Hỗ trợ trực tuyến