Thông đồng (hay cấu kết) là thuật ngữ dùng để chỉ hành động liên kết hoặc hợp tác giữa các đối thủ cạnh tranh nhằm thực hiện một mục đích cụ thể nào đó nhằm mục đích đôi bên cùng có lợi. Cấu kết thường diễn ra trong thị trường cạnh tranh độc quyền, khi quyết định thông đồng giữa một số công ty có thể làm ảnh hưởng rất lớn tới thị trường. Cartel là một dạng thông đồng rất dễ thấy, ngược lại, còn có một dạng khác gọi là thoả thuận ngầm. Theo Lý thuyết trò chơi, nếu các nhà cung cấp hàng hoá hoạt động độc lập với nhau thì tự giá cả trên thị trường sẽ điều chỉnh xuống mức thấp nhất, làm tăng hiệu quả thị trường và làm giảm khả năng ảnh hưởng tới việc quyết định mức giá của mỗi công ty riêng biệt; nếu một công ty tăng giá sản phẩm lên, đối thủ cạnh tranh của nó sẽ không có xu hướng làm theo, bởi vì như vậy số lượng hàng bán ra rất có thể sẽ bị giảm. Những quy luật này nằm trong nội dung cơ bản của Học thuyết méo mó về cầu. Nếu các công ty thông đồng với nhau nhằm tăng giá lên, thì sự suy giảm về cầu được giữ ở mức tối thiểu bởi vì khách hàng không có lựa chọn nào khác để tìm được mặt hàng rẻ hơn. Như vậy, các công ty thực hiện hành động thông đồng đã đạt được lợi ích tại mức chi phí hiệu quả đối với xã hội. Những biện pháp nhằm thực hiện hành động cấu kết ngầm gồm có: - Thống nhất mức giá chung- Phạt vì bán giảm giá- Thông báo trước khi có sự thay đổi về giá- Trao đổi thông tin- Trao đổi và giao dịch về hàng hoá nội bộ Thông đồng là một hình thức phạm tội ở Mỹ (cả ở Canada và hầu hết các nước EU) theo Luật chống độc quyền, nhưng những hành động cấu kết ngầm dưới dạng Giá ấn định theo (price leadership) và Ngầm hiểu (tacit understandings) vẫn diễn ra. Các ví dụ cụ thể của hành động thông đồng ở Mỹ: - Thông đồng về giá và phân chia thị trường trong ngành sản xuất trang thiết bị điện những năm 1960- Các chủ Hiệp hội Bóng rổ lớn thông đồng nhằm hạn chế mức lương của cầu thủ vào giữ thập kỉ 80- Thông đồng về giá giữa các công ty sản xuất thực phẩm cung cấp cho các quán ăn tự phục vụ trong các trường học và quân đội năm 1993- Phân chia thị trường và sản lượng đầu ra trong các công ty sản xuất thức ăn phụ gia cho vật nuôi ở Mỹ, Nhật, Hàn Quốc vào năm 1996. Có rất nhiều con đường khiến thông đồng ngầm phát triển: Những cuộc hội nghị phân tích giá chứng khoán và hội nghị trong ngành công nghiệp hầu hết giúp cung cấp sự minh bạch về giá và chiến lược. Điều này cho phép các doanh nghiệp thấy được vì sao và biện pháp mà các công ty khác đang sử dụng để định giá sản phẩm.Nếu các biện pháp định giá trở nên phức tạp, làm cho khách hàng không thể hiểu nổi (ví dụ định giá dựa trên mức độ rủi ro, thuế và chi phí ẩn, định giá có thể thương lượng), việc làm này có thể dẫn đến việc cạnh tranh dựa trên giá cả là vô nghĩa (bởi vì giá có rẻ cũng khó mà giải thích được với khách hàng nếu chỉ qua một mẩu tin quảng cáo ngắn). Từ đó dẫn đến giá cả của các công ty phải tương đương nhau và cạnh tranh lại bắt đầu từ quảng cáo và xây dựng hình ảnh. Tuy nhiên, việc thông đồng cũng gặp phải một số rào cản lớn, đó là: - Số lượng các doanh nghiệp: nếu số lượng các doanh nghiệp ra nhập ngành càng cao, thì càng khó điều phối và giao tiếp lẫn nhau.- Sự khác nhau giữa chi phí và nhu cầu ở các công ty khác nhau: nếu chi phí ở các công ty khác nhau rất nhiều, thì rất khó để có thể thiết lập được mức giá để ấn định được mức sản lượng.- Lừa đảo: Có rất nhiều nhân tố kích thích để doanh nghiệp không thực hiện theo thoả thuận, bởi vì nếu doanh nghiệp phá vỡ thoả thuận và bán với giá rẻ hơn thì sẽ tạo ra một cuộc chiến về giá và doanh nghiệp thực hiện việc này sẽ kiếm được một món lợi khổng lồ.- Sự ra nhập ngành tiềm năng: Những doanh nghiệp mới sẽ ra nhập ngành, thiếp lập một hệ thống định giá mới và loại bỏ việc cấu kết (mặc dù luật chống bán phá giá, và hàng rào thuế quan ngăn cản các công ty nước ngoài vào trong nước).- Suy thoái kinh tế: Việc gia tăng tổng chi phí trung bình hoặc suy giảm doanh thu dẫn đến động lực cạnh tranh lại với các đối thủ nhằm chiếm được mảng thị phần lớn hơn và kích cầu đối với sản phẩm của mình.
Collusion / Thông Đồng
Thuật Ngữ
09-10-2025
Chia sẻ bài viết
Nội Dung Liên Quan Đến Thuật Ngữ
EBIT Margin / Hệ Số Biên Lợi Nhuận Trước Thuế Và Lãi Vay
09-10-2025
Hệ số biên lợi nhuận trước thuế và lãi vay (thường được biết đến nhiều hơn với cái tên hệ số biên lợi nhuận hoạt động - tiếng Anh: operating profit margin) phản ánh hiệu quả quản lý tất cả chi phí hoạt động, bao gồm giá vốn và chi phí bán hàng, chi phí quản lý của doanh nghiệp.Open-End Fund / Quỹ Mở
09-10-2025
Hình thức công ty đầu tư bán các cổ phần mới cho công chúng và sẵn sàng mua lại (thu hồi) cổ phần của nó theo giá thị trường khi các nhà đầu tư muốn bán. Các công ty đầu tư mở được công chúng biết đến như các quỹ hỗ tương, và được gọi như thế vì các công ty này liên tục tạo ra các cổ phần mới khi chúng bán chứng khoán.Collective Products / Sản Phẩm Công Cộng
09-10-2025
Sản phẩm công cộng là thuật ngữ dùng để chỉ những hàng hoá/dịch vụ cung ứng cho một nhóm người xác định chứ không phải cho một cá nhân cụ thể.Tuy nhiên, trên thực tế người tiêu dùng sẽ không thể hiện là họ sẵn sàng ưu tiên cho những sản phẩm công cộng, nhưng vẫn hy vọng chi phí bỏ ra giảm tối đa mà số lượng nhận được không bị ảnh hưởng. Chính bởi vậy, những sản phẩm công cộng thường không bán và người ta cũng không áp giá thị trường để đo giá trị của những sản phẩm này.Collective Goods / Hàng Hoá Tập Thể
09-10-2025
Hàng hoá hay dịch vụ mang tính chất KHÔNG LOẠI TRỪ. Xem PUBLIC GOODSOpen Unemployment / Thất Nghiệp Mở
09-10-2025
Là một cụm thuật ngữ thường được sử dụng trong bối cảnh của các nước đang phát triển. Là tình trạng mà một cá nhân thừa nhận rằng anh ta đang khôg có công ăn việc làm và sau đó anh ta có thể đăng ký với một cơ sở giao dịch lao động.
