Tòa SA5 Vinhomes Smart City Tây Mỗ, Nam Từ Liêm, Hà Nội.
Hotline / Zalo: 0966.246.800
Email: letam.calico@gmail.com
Dẫn đường: Đến Goolge Map

Arbitrage Pricing Theory / Lý Thuyết Định Giá Kinh Doanh Chênh Lệch

Thuật Ngữ 09-10-2025

Lý thuyết định giá chênh lệch là một lý thuyết tổng quát về định giá tài sản, và nó đang dần có sức ảnh hưởng lớn trong việc định giá các cổ phần.APT nói rằng tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của tài sản tài chính có thể được đo lường thông qua các yếu tố kinh tế vĩ mô khác nhau hoặc là yếu tố thị trường. Sự nhạy cảm của tài sản với sự thay đổi trong mỗi yếu tố được đại diện bằng đại lượng xác định gọi là hệ số beta. Xuất phát từ lý thuyết này, mô hình xác định tỷ suất sinh lợi cho các chứng khoán đã được sử dụng để định giá tài sản một cách chính xác- Gía của tài sản phải bằng với mức kỳ vọng vào cuối giai đoạn đầu tư chiết khấu về hiện tại với mức chiết khấu được tính toán trong mô hình. Nếu giá khác nhau, cơ hội kinh doanh chênh lệch sẽ đưa nó về lại đúng đường thẳng như mô hình.Lý thuyết APT được nhà kinh tế học Stephen Ross đề xướng năm 1976Mô hình APTTỷ suất sinh lợi kỳ vọng của một tài sản rủi ro được mô tả thỏa mãn công thức sau:  Trong đó: là tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của tài sản có rủi ro là phần bù rủi ro nhân tố là tỷ suất sinh lợi phi rủi ro là nhân tố kinh tế vĩ mô là mức nhạy cảm của tài sản với nhân tố k (gọi là bêta nhân tố) là biến động ngẫu nhiên riêng có của tài sản rủi ro, có trung bình bằng 0 Đó là, tỷ suất sinh lợi không chắn chắn của một tài sản j là một quan hệ tuyến tính với n nhân tố. Thêm vào đó, mỗi nhân tố cũng được xem là biến ngẫu nhiên có giá trị trung bình bằng zero.Các giả định của APTAPT đòi hỏi 4 giả định : Tỷ suất sinh lợi có thể được mô tả bằng một mô hình nhân tố Không có các cơ hội kinh doanh chênh lêch Có một lượng chứng khoán đủ lớn để có thể xây dựng một danh mục đầu tư đa dạng hóa tốt, loại bỏ các rủi ro riêng có của các chứng khoán đơn lẻ. Thị trường tài chính không có các bất hoàn hảo APT và kinh doanh chêch lệchKinh doanh chêch lệch là việc thực hiện tìm kiếm lợi nhuận từ tình trạng mất cân bằng giữa hai hoặc nhiều hơn hai thị trường và lợi nhuận kiếm được đó là lợi nhuận phi rủi ro.Bởi vì rủi ro riêng có của doanh nghiệp không quan trọng với nhà đầu tư khi nhà đầu tư đã nắm giữ một danh mục được đa dạng hóa tốt. Do đó, hầu hết các nhà đầu tư không chịu rủi ro riêng có của doanh nghiệp bởi vì họ đã đa dạng hóa tốt. Nếu hai khoản đầu tư hoàn toàn giống nhau nhưng lại có tỷ suất sinh lợi kỳ vọng khác nhau, thì sau đó, nếu không có chi phí giao dịch và các bất hoàn hảo của thị trường thì một nhà đầu tư có thể kiếm lợi phi rủi ro bằng cách mua một khoản đầu tư với tỷ suất sinh lợi kỳ vọng cao hơn và bán khống một khoản đầu tư có mức tỷ suất sinh lợi thấp hơn. Điều này có thể giải thích nhưng cơ hội kinh doanh chênh lệch như thế sẽ chỉ xuất hiện nếu tỷ suất sinh lợi của các chứng khoán không thỏa mãn công thức trên ( tức là công thức thể hiện mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của chứng khoán với các hệ số beta nhân tố. Bởi vì điều này đã được lưu ý từ trước, do đó mối quan hệ giữ tỷ suất sinh lợi kỳ vọng- rủi ro này được biết đến như là lý thuyết kinh doanh chênh lệch (APT)Kinh doanh chênh lệch trong các kỳ vọngAPT mô tả cơ chế nhờ đó nhà đầu tư thực hiện kinh doanh chênh lệch sẽ mang một tài sản từ chỗ bị định giá sai theo mô hình APT trở lại đúng trên đường thẳng APT với mức giá kỳ vọng của nó. Chú ý rằng thông qua kinh doanh chênh lệch đúng nghĩa, nhà đầu tư đã có một mức tưởng thưởng được bảo đảm, trong khi kinh doanh chênh lệch APT được mô tả bên dưới, nhà đầu tư lại chỉ có mức tưởng thưởng kỳ vọng dương. Do đó, APT giả định rằng” kinh doanh chênh lệch trong các kỳ vọng” ví dụ: Các nhà đầu tư thực hiện kinh doanh chênh lệch sẽ mang giá tài sản trở về đúng đường thẳng của tỷ suất sinh lợi hợp lý theo mô hinh hình lý thuyết danh mục đầu tư.Cơ chế thực hiện kinh doanh chênh lệchTrong nội dung của APT, kinh doanh chênh lệch bao gồm kinh doanh 2 tài sản, tối thiểu là phải có một tài sản bị định giá sai. Các nhà kinh doanh chênh lệch bán tài sản đang quá đắt và sử dụng số tiền đó để mua các tài sản đang quá rẻ.Theo APT, một tài sản bị định giá sai nếu giá hiện tại của nó khác xa với mức giá được chỉ ra trước trong mô hình. Gía tài sản ngày hôm nay nên bằng với tổng giá trị các dòng tiền trong tương lai chiết khấu về hiện tại với mức chiết khấu của APT, khi mà tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của tài sản là một quan hệ tuyến tính với các yếu tố khác nhau và sự rất nhạy cảm của tài sản với sự thay đổi trong mỗi yếu tố được đo lường bằng hệ số beta xác định.Một tài sản được định giá đúng ở đây trong thực tế có lẽ là một tài sản tổng hợp- tức là một danh mục đầu tư bao gồm nhiều tài sản được định giá chính xác. Danh mục này có cùng tình trạng với tài sản bị định giá sai đối với các yếu tố kinh tế vĩ mô. Các nhà kinh doanh chênh lệch tạo nên danh mục bằng cách xác định số tài sản được định giá đúng( một trên một nhân tố cộng một) và sau đó xác định tỷ trọng của các tài sản để cho beta của danh mục trên mỗi yếu tố cũng giống như beta của mỗi yếu tố đối với tài sản bị định giá sai.Khi nhà đầu tư nắm giữ tài sản và bán khống danh mục hoặc ngược lại, anh ta đang tạo ra một vị thế có tỷ suất sinh lợi kỳ vọng dương( chính là sự khác biệt giữa tỷ suất sinh lợi tài sản và tỷ suất sinh lợi danh mục). Nhà kinh doanh chênh lệch ở vào vị thế kiếm lợi nhuận phi rủi ro.Khi giá hôm nay là quá thấp: ám chỉ rằng vào cuối thời kỳ danh mục đầu tư sẽ được đánh giá theo tỷ suất sinh lợi được chỉ ra trong  mô hình APT, trong khi đó, tài sản bị định giá sai sẽ được đánh giá cao với mức với tỷ suất sinh lợi cao hơn tỷ suất sinh lợi trên. Do đó nhà kinh doanh chênh lệch có thể:Hôm nay: Bán khống danh mục đầu tư sau đó dùng tiền mua tài sản bị định giá sai, vào cuối giai đoạn sẽ bán tài sản bị định giá sai, sử dụng tiền đó mua danh mục trở lại, và bỏ túi phần chênh lệchNếu giá hôm nay là quá cao: ám chỉ rằng vào cuối giai đoạn, danh mục sẽ được định giá theo tỷ suất sinh lợi được chỉ ra trong APT, trong khi đó tài sản bị định giá sai sẽ bị đánh giá theo mức tỷ suất sinh lợi thấp hơn mức trên. Do đó nhà kinh doanh chênh lệch có thể:Hôm nay: bán khống tài sản bị định giá sai, dùng tiền đó mua danh mục. Vào cuối giai đoạn sẽ bán danh mục, dùng tiền đó mua lại tài sản bị định giá sai, bỏ túi phần chênh lệch.Mối quan hệ với mô hình định giá tài sản vốnAPT theo sau CAPM là một trong hai lý thuyết có sự ảnh hưởng lớn đến việc định giá tài sản. APT khác với CAPM ở chỗ, APT có ít giả định hơn, do đó nó cho một mô hình giải thích tốt hơn về tỷ suất sinh lợi của tài sản. Gỉa định rằng mỗi nhà đầu tư sẽ nắm giữ một danh mục đầu tư duy nhất với các beta đặc trưng của riêng nó. Hiểu theo một cách nào đó thì CAPM là trường hợp đặc biệt của APT trong đó đường thị trường chứng khoán đại diện cho giá tài sản của mô hình một nhân tố, nơi mà beta chỉ thể hiện sự thay đổi trong giá trị của thị trường.Thêm vào đó, APT có thể được xem giống như là mô hình “một bên cung”, bởi vì các hệ số beta cho thấy mức ảnh hưởng nhạy cảm của tài sản cơ sở với các yếu tố kinh tế. Do đó, các sự thay đổi các nhân tố sẽ gây nên sự thay đổi cấu trúc trong tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của tài sản hoặc trong trường hợp của cổ phiếu, là khả năng sinh lợi của một công ty.Một mặt, mô hình định giá tài sản vốn CAPM được xem là mô hình” một bên cầu”. Các kết quả của nó, mặc dù tương tự với các kết quả đó trong mô hình APT, nhưng nó phát sinh từ các vấn đề lớn của mỗi nhà đầu tư và từ kết quả sự cân bằng thị trường.( nhà đầu tư được xem như là” người tiêu dùng” của các tài sản.Sử dụng mô hình APTXác định các nhân tốCũng giống như với CAPM, các bêta xác định nhân tố được tìm thấy thông qua hồi quy tuyến tính của tỷ suất sinh lợi các chứng khoán trong lịch sử. Nhưng không giống CAPM, APT tự nó không bộc lộ các nhân tố xác định giá của nó.- Số lượng và tính tự nhiên của của các nhân tố này thường thay đổi qua thời gian và giữa các nền kinh tế. Dưới đây là gợi ý để tìm kiếm các yếu tố có thể ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của tài sản: Ảnh hưởng của chúng lên các thay đổi không mong đợi trong giá tài sản là rõ ràng Chúng nên đại diện cho các ảnh hưởng không đa dạng hóa ( đó là ; rõ ràng, đề cập đến các yếu tố kinh tế vĩ mô hơn là các yếu tố riêng có của công ty) Đòi hỏi tính đều đặn và thông tin chính xác của các biến Mối quan hệ nên được xem xét trên nền tảng kinh tế Chen, Roll và Ross đã xác định các yếu tố kinh tế vĩ mô sau là rất quan trọng trong việc giải thích tỷ suất sinh lợi của chứng khoán: Sự thay đổi trong lạm phát Sự thay đổi trong GNP được chỉ ra bởi chỉ số sản xuất công nghiệp Sự thay đổi trong lòng tin nhà đầu tư Sự thay đổi trong đường cong tỷ suất sinh lợi trái phiếu Một số nhân tố khác có thể được sử dụng là : Lãi suất ngắn hạn Khác biệt giữa lãi suất ngắn hạn và lãi suất dài hạn Một chỉ số chứng khoán được đa dạng hóa ví dụ như S&P500 hoặc chỉ số Composite NYSE Sự thay đổi trong giá vàng hoặc giá các kim loại quý khác Sự thay đổi trong tỷ giá hối đoái.

Chia sẻ bài viết

Nội Dung Liên Quan Đến Thuật Ngữ

Arbitrage Pricing Theory (APT) / Lý Thuyết Định Giá Arbitrage

Arbitrage Pricing Theory (APT) / Lý Thuyết Định Giá Arbitrage

09-10-2025

Arbitrage Pricing Theory (APT) là một mô hình công cụ tài chính và hành vi vốn đầu tư dựa trên giả định rằng nếu phần thu hồi của tài sản đầu tư có thể được miêu tả qua các cấu trúc chứa các nhân tố chính hay các mô hình, phần lợi nhuận dự tính của mỗi tài sản trong danh mục đầu tư có thể được biểu diễn qua sự kết hợp của các hiệp phương sai của các nhân tố và các phần lãi của tài sản. Các nhân tố có thể là bất kì hoặc là các biến số kinh tế vĩ mô, như tỉ suất lợi nhuận, lạm phát, sản xuất công…
Additive Utility Function / Hàm Thoả Dụng Phụ Trợ

Additive Utility Function / Hàm Thoả Dụng Phụ Trợ

09-10-2025

Additive Utility Function là một dạng hàm thoả dụng:U=Ua +Ub+Uc .Trong đó U là độ thoả dụng a,b,c ;a hàng hoá thay thế trong các hệ thống chi tiêu tuyến tính, các nhóm hàng hoá này không thể thay thế cho nhau.
Additional Worker Hypothesis / Giả Thuyết Công Nhân Thêm Vào

Additional Worker Hypothesis / Giả Thuyết Công Nhân Thêm Vào

09-10-2025

Theo giả thuyết công nhân thêm vào, thu nhập thực tế của gia đình giảm trong thời kỳ suy thoái theo chu kỳ sẽ gây ra HIỆU ỨNG THU NHẬP.
Arbitrage With Financial Futures / Kĩ Thuật Arbitrage Đối Với Futures Tài Chính

Arbitrage With Financial Futures / Kĩ Thuật Arbitrage Đối Với Futures Tài Chính

09-10-2025

Arbitrage With Financial Futures là Kĩ Thuật Arbitrage, các chỉ số cổ phiếu và các hợp đồng futures của các chỉ số đó thường không biến động tách rời nhau. Khi chúng biến động không đồng thời, giá hợp đồng futures của chỉ số sẽ biến động mạnh hơn hoặc yếu hơn so với chính chỉ số đó.
Additional Bonds Test / Kiểm Tra Trái Phiếu Phát Hành Bổ Sung

Additional Bonds Test / Kiểm Tra Trái Phiếu Phát Hành Bổ Sung

09-10-2025

Additional Bonds Test là kiểm tra giới hạn của lượng trái phiếu mới có thể phát hành. Bởi vì trái phiếu được đảm bảo bởi tài sản hoặc doanh thu của một doanh nghiệp hay đơn vị nhà nước, người bao tiêu, bảo lãnh của trái phiếu phải chắc chắn rằng người phát hành trái phiếu đủ khả năng để trả nợ.
Hỗ trợ trực tuyến