Phát hành riêng lẻ là việc công ty phát hành chào bán chứng khoán của mình trong phạm vi một số người nhất định, thông thường là cho các nhà đầu tư có tổ chức có ý định nắm giữ chứng khoán một cách lâu dài, như công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí... với những điều kiện hạn chế chứ không phát hành rộng rãi ra công chúng. Các ngân hàng đầu tư cũng có thể tham gia vào việc phát hành riêng lẻ với tư cách nhà phân phối để hưởng phí phát hành. Tức là ngân hàng đầu tư sẽ đứng ra mua trọn gói số chứng khoán phát hành và phân phối lại cho các nhà đầu tư. Đa số các đợt phát hành trái phiếu đều thực hiện dưới hình thức phát hành riêng lẻ, còn việc phát hành cổ phiếu phổ thông ít khi được thực hiện dưới hình thức này bởi lẽ cổ phiếu là một mặt hàng hấp dẫn và phổ biến trên thị trường chứng khoán, công ty thường phát hành rộng rãi cổ phiếu ra công chúng như một hình thức huy động vốn hiệu quả. Ngược với phát hành riêng lẻ, phát hành chứng khoán ra công chúng là việc phát hành trong đó chứng khoán có thể chuyển nhượng và được bán rộng rãi ra công chúng cho một số lượng lớn người đầu tư (trong đó phải dành một tỷ lệ cho các nhà đầu tư nhỏ) và khối lượng phát hành phải đạt một mức nhất định. Chính vì vậy thủ tục phát hành công chúng thường phức tạp hơn là phát hành riêng lẻ, thường phải đi kèm với một số điều kiện về tình hình kinh doanh công ty và khối lượng phát hành có sự thẩm định của Ủy ban chứng khoán nhà nước. Việc phân biệt giữa phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng có ý nghĩa rất lớn. Việc phân biệt này là để xác định những người phát hành rộng rãi ra công chúng phải là những công ty có chất lượng cao, hoạt động sản xuất kinh doanh tốt, nhằm bảo vệ cho công chúng đầu tư nói chung, nhất là những nhà đầu tư nhỏ thiếu hiểu biết. Đồng thời, đây cũng là điều kiện để xây dựng một thị trường chứng khoán hướng tới mục tiêu an toàn, công khai và có hiệu quả cho mọi nhà đầu tư. Quỹ thành viên (Quỹ đầu tư cá nhân) là ví dụ điển hình cho phương thức phát hành riêng lẻ. Quỹ này huy động vốn bằng phương thức phát hành riêng lẻ cho một nhóm nhỏ các nhà đầu tư, có thể được lựa chọn trước, là các cá nhân hay các định chế tài chính hoặc các tập đoàn kinh tế lớn, do vậy tính thanh khoản của quỹ này sẽ thấp hơn quỹ công chúng. Bởi lẽ mục tiêu của Quỹ này là nhằm tập hợp một số nhà đầu tư có tiềm lực tài chính để tham gia đầu tư mạo hiểm triển vọng đem lại lợi nhuận rất cao nhưng rủi ro vô cùng lớn. Các nhà đầu tư vào các quỹ tư nhân thường với lượng vốn lớn, và đổi lại họ có thể tham gia vào trong việc kiểm soát đầu tư của quỹ.
Private Offering (Private Placement) / Phát Hành Riêng Lẻ
Thuật Ngữ
09-10-2025
Chia sẻ bài viết
Nội Dung Liên Quan Đến Thuật Ngữ
Truncated Earnings Function / Hàm Thu Nhập Rút Gọn
09-10-2025
Một kiểm nghiệm giả thuyết của thị trường lao động NHỊ NGUYÊN rằng cơ chế quyết định tiền công khác nhau giữa khu vực "thứ nhất" và "thứ hai" của thị trường lao động, khu vực thứ nhất trả cho VỐN NHÂN LỰC, khu vực thứ hai trả cho những người vừa không có kinh nghiệm và không có học vấn.Privatization / Tư Nhân Hóa
09-10-2025
Chính sách chuyển đổi sở hữu công cộng của một tài sản thành sở hữu tư nhân hoặc cho phép một tổ chức kinh doanh ở khu vực tư nhân hực hiện một hoạt động nào đó cho đến lúc ấy vẫn được tiến hành bởi một tổ chức công cộng.Privatization In Eastern Europe / Tư Nhân Hóa Ở Đông Âu
09-10-2025
Là việc chuyển hoạt động từ khu vực nhà nước sang khu vực tư nhân ở Đông Âu với niềm tin rằng sự kiểm soát và sở hữu tư nhân sẽ có hiệu quả hơn về việc phân bố nguồn lực so với sở hữu nhà nước.Triple Top / Mô Hình 3 Đỉnh
09-10-2025
Mô hình 3 đỉnh là một mô hình sử dụng trong phân tích kỹ thuật, để dự báo một cú đảo chiều đối với một thị trường đang trên đà lên giá. Có thể xác định được mô hình này khi đồ thị giá một loại tài sản đang phân tích tạo nên 3 đỉnh tại cùng một mức giá gần tương đương nhau.Pivot Effect Hypothesis / Giả Thuyết Về Hiệu Ứng Quay
09-10-2025
Lập luận cho rằng CHÍNH SÁCH THU NHẬP không những tạo nên các hiệu ứng dịch chuyển trong quá trình điều chỉnh tiền lương mà còn có thể làm thay đổi độ dốc của đường cong Phillips, hoặc nói một cách chuyên môn hơn, làm thay đổi độ lớn của sự phản ứng của tỷ lệ thay đổi về lương đối với các yếu tố quyết định gây ra sự thay đổi đó.
