Quỹ cổ phần riêng là các nhóm, hội sở hữu một lượng vốn do các công ty cổ phần riêng đầu tư vào. Mặc dù có thể tồn tại dưới các hình thức khác, nhưng nhìn chung các quỹ cổ phần riêng thường được thành lập dưới dạng các công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc các công ty giao vốn và được kiểm soát bởi các công ty cổ phần riêng, đóng vai trò là các thành viên hợp danh. Các công ty giao vốn (limited partnership) thường được gọi là quỹ (fund), và các thành viên hợp danh đôi khi được chỉ định đóng vai trò làm công ty giám sát (Management Company). Các quỹ này sẽ huy động được vốn từ một số nhà đầu tư có khả năng đáp ứng được các tiêu chuẩn đề ra, ví dụ như: các quỹ hưu trí (pension fund), các tổ chức tài chính và các cá nhân có tiềm lực tài chính lớn_các nhà đầu tư này sẽ cam kết lượng đóng góp của họ vào quỹ. Khi đó, họ sẽ trở thành các thành viên góp vốn của quỹ, chịu trách nhiệm hữu hạn trong phần vốn góp của mình. Khi thành viên hợp danh xác định được cơ hội đầu tư phù hợp, thì quỹ sẽ yêu cầu các thành viên góp vốn đóng góp lượng vốn cổ phần bắt buộc theo tỉ lệ vốn mà họ đã cam kết đóng góp. Tất cả các quyết định đầu tư sẽ do thành viên hợp danh quyết định, đây đồng thời cũng là người sẽ quản lý danh mục đầu tư của quỹ. Trong suốt thời gian tồn tại (thường kéo dài khoảng 10 năm) quỹ này sẽ tiến hành từ 15 đến 25 hoạt động đầu tư riêng lẻ và thường không có hoạt động nào được phép chi quá 10% tổng số vốn cam kết. Thành viên hợp danh thường được bù đắp bằng các khoản như: chi phí quản lý (tính bằng tỉ lệ phần trăm trên tổng vốn cổ phần của quỹ), chi phí điều hành (chi phí do các công ty nằm trong danh mục đầu tư trả cho thành viên hợp danh) và các chi phí giao dịch (là chi phí trả cho thành viên hợp danh do khả năng tư vấn của họ trong các vụ M&A). Thường thì thành viên hợp danh sẽ nhận được phí quản lý hàng năm là từ 1% đến 2% của vốn cam kết, hưởng 20% trên số lãi vượt trội so với mục tiêu đề ra_thường mục tiêu lợi nhuận nằm trong khoảng từ 8% đến 10% (được gọi là ngưỡng lợi suất). Tổng thu nhập của quỹ có thể lên trên mức 20% một năm. Mức sinh lợi cao trong trường hợp sử dụng đòn bẩy nợ để mua lại chủ yếu là do mức vay nợ quá cao của các công ty nằm trong danh mục đầu tư, hoặc là do công ty đã tiến hành các hoạt động đầu tư có mức độ mạo hiểm hơn từ trước đó (rủi ro càng cao thì mức sinh lời càng lớn). Các công ty cổ phần riêng thường thu lợi từ hoạt động đầu tư của mình thông qua ba con đường: Thứ nhất: tiến hành IPO Thứ hai: tiến hành bán hoặc sáp nhập công ty mà họ kiểm soát Tiến hành tái vốn hóa Các chứng khoán chưa được niêm yết trên thị trường có thể được công ty bán trực tiếp cho các nhà đầu tư hoặc các quỹ đầu tư riêng (thường gọi là chào phát hành riêng lẻ_private offering), do đó có thể gọi thêm vốn đầu tư từ các nhà đầu tư nhỏ, tạo ra một quỹ đầu tư (capital pool). Việc cân nhắc lựa chọn giữa đầu tư vào một quỹ cổ phần riêng và đầu tư dưới các hình thức khác bao gồm các điểm sau đây: - Phần lớn các quỹ cổ phần riêng đều đòi hỏi lượng đầu tư ban đầu lớn (thường là từ 100,000$ trở lên) cộng thêm các khoản đầu tư khác trong năm đầu tiên hoạt động, được gọi bằng thuật ngữ "drawdown"- Các khoản đầu tư vào công ty giao vốn (là dạng đầu tư chủ yếu của các công ty cổ phần riêng) thường được coi là các khoản đầu tư không có tính lỏng. Một khi đã đầu tư rồi thì sẽ rất khó có thể sử dụng được dòng tiền này bởi chúng bị khóa chặt trong các khoản đầu tư dài hạn, có thể kéo dài tới 12 năm. Việc phân phối lợi nhuận chỉ được thực hiện khi mà các khoản đầu tư này đã được chuyển sang dạng tiền mặt, thường thì các thành viên góp vốn sẽ không có quyền yêu cầu bán các tài sản tài chính khác để quy ra tiền. - Nếu các công ty cổ phần riêng không thể tìm thấy cơ hội tốt để đầu tư, họ sẽ không viện tới cam kết góp vốn của các nhà đầu tư. Tuy nhiên, trong trường hợp các quỹ đầu tư tiến hành đầu tư vào các công ty làm ăn thất bại, nhà đầu tư sẽ có nguy cơ bị trắng tay. Điều này đặc biệt đúng đối với các quỹ đầu tư mạo hiểm. Cùng với các rủi ro trên đây, thì các quỹ cổ phần riêng có thể mang lại thu nhập cao hơn, với đội ngũ quản trị viên tốt hơn hẳn thị trường đại chúng (public market). Nhìn chung, đầu tư vào các quỹ cổ phần riêng là hoạt động dành cho những người có khả năng để vốn của mình bị đóng băng trong thời gian dài, sẵn sàng chấp nhận rủi ro bị mất trắng cả cơ nghiệp. Nhưng bù lại, họ có thể được hưởng mức lợi suất hàng năm lên tới 30% nếu quỹ làm ăn thành công. Phần lớn các quỹ cổ phần riêng chỉ chào đón các nhà đầu tư là tổ chức và các cá nhân có tiềm lực tài chính mạnh. Luật pháp cũng có những quy định nghiêm ngặt bởi quỹ cổ phần riêng sẽ ít chịu sự kiểm soát của cơ quan chức năng hơn các quỹ tương hỗ khác. Ví dụ, ở Mỹ, phần lớn các quỹ cổ phần riêng yêu cầu nhà đầu tư tiềm năng phải có tài sản ròng từ 1 triệu $ trở lên, với cá nhân phải có thu nhập từ trên 200.000$, hoặc tổng thu nhập của cả hai vợ chồng là từ 300.000$ trong hai năm liên tiếp gần đây (phải có bằng chứng xác thực) và dòng thu nhập đó là liên tục và ổn định.
Private Equity Fund / Quỹ Cổ Phần Riêng
Thuật Ngữ
09-10-2025
Chia sẻ bài viết
Nội Dung Liên Quan Đến Thuật Ngữ
Turnkey Contract / Hợp Đồng Chìa Khóa Trao Tay
09-10-2025
Một hợp đồng theo đó nhà thầu có trách nhiệm xây dựng lắp đặt trang thiết bị sản xuất cho khách hàng và bảo đảm rằng chúng hoạt động có hiệu quả trước khi chuyển giao cho khách hàng. Bằng việc tập trung trách nhiệm đóng góp của tất cả các bên tham gia dự án này vào chính tay mình, nhà thầu có thể thu xếp các điều kiện tài chính thuận lợi hơn so với khách hàng.Planned Economy / Nền Kinh Tế Kế Hoạch Hoá
09-10-2025
Một nền kinh tế trong đó các quá trình kinh tế chủ yếu được quyết định ở một mức độ lớn không phải do các tác nhân thị trường, mà do một cơ quan kế hoạch hoá kinh tế, cơ quan này thực hiện các mục tiêu kinh tế chủ yếu của xã hội.Turning Point / Điểm Ngoặt
09-10-2025
Điểm trong chu kỳ kinh doanh khi TRẠNG THÁI MỞ RỘNG của chu kỳ được thay thế bằng trạng thái thu hẹp hoặc ngược lại. Điểm đỉnh và điểm đáy được goi là các bước ngoặt.T-Statistic / Thống Kê T
09-10-2025
Một thống kê tuân theo phân phối T. Thống kê T thường được dùng trong kiểm định giả thiết để xác định MỨC Ý NGHĨA THỐNG KÊ của các tham số trong các mô hình kinh tế lượng, và được tính bằng tỷ số giữa giá trị tham số ước tính và sai số chuẩn của nó.Plagiarism / Đạo Văn
09-10-2025
Plagiarism (theo tiếng Latin lấy ý từ từ "kidnap" - bắt cóc trong tiếng Anh) là một từ mô tả việc tuyên bố, ngụ ý quyền tác giả gốc hoặc, toàn bộ hoặc một phần, tài liệu sử dụng từ sản phẩm viết hoặc kết quả lao động sáng tạo của một (một số) người khác là của mình nhưng không có ghi chú hoặc một hình thức tương tự để ghi nhận về công lao của tác giả gốc. Plagiarism không giống với giả mạo (giấy tờ hay chữ ký), trong trường hợp giả mạo, tính xác thực của chữ ký, tài liệu hay một dạng tương tự…
