1. Ngân hàng. Hệ thống thu chi phiếu trong đó các định chế nhận tiền gởi trao đổi chi phiếu theo mệnh giá, mà không chịu phí (được gọi là phí trao đổi) để chấp nhận các chi phiếu được rút tại các ngân hàng khác. Nghiệp vụ ngân hàng không theo mệnh giá phổ biến trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Các ngân hàng là các ngân hàng thành viên trong Hệ thống Dự trữ Liên bang, được Fed yêu cầu thanh toán các chi phiếu theo mệnh giá, và trong thực tế, hầu hết các ngân hàng, ngay cả các ngân hàng không thành viên, đều thanh toán các chi phiếu trao đổi theo mệnh giá. Dự trữ Liên bang duy trì một danh mục, được gọi là danh mục mệnh giá, của các ngân hàng chi trả các chi phiếu theo mệnh giá. 2. Chứng khoán. Giá trị bề mặt của chứng khoán hay công cụ tài chính. Mệnh giá của một cổ phiếu thường là giá trị danh nghĩa được ấn định bởi điều lệ công ty, và không có liên quan tài chính cụ thể nào sau ngày phát hành. Mệnh giá của chứng khoán nợ, ví dụ trái phiếu, thì rất liên quan, vì đó là giá sẽ được trả cho chủ trái phiếu khi đáo hạn. Phiếu lãi (coupon) trái phiếu phải trả theo bán niên là số phần trăm của mệnh giá một trái phiếu. Cổ tức cổ phiếu ưu đãi thường được phát biểu theo phần trăm của mệnh giá đã ấn định, nhưng cũng có thể được xác định bằng việc chào giá đấu thầu định kỳ. Mệnh giá không liên quan đến giá trị thị trường, vốn bị ảnh hưởng nhiều bởi việc định giá thị trường. Lơi suất trên chứng khoán được chào bán, giá trị tài sản ròng và giá cả của các chứng khoán tương tự trong thị trường thứ cấp. Xem ACCRETION OF DISCOUNT. Đối với cổ phiếu, mệnh giá là một khái niệm rất cũ. Mệnh giá của một cổ phiếu là giá của cổ phiếu đó trong lần chào bán đầu tiên; công ty phát hành cổ phiếu cam kết sẽ không phát hành thêm một cổ phiếu nào dưới mệnh giá đó, nhờ vậy các nhà đầu tư có thể tin tưởng rằng không ai có thể được mức hưởng giá tốt hơn họ. Đối với thị trường chứng khoán không bị quản lý, điều này có ý nghĩa hơn nhiều so với thị trường bị kiểm soát chặt như ngày nay. Hầu hết các cổ phiếu phổ thông ngày nay không còn có mệnh giá nữa, những cổ phiếu buộc phải có mệnh giá (theo qui định của pháp luật) thì luôn ghi mệnh giá cực kì thấp (thường tương đương với đơn vị tiền tệ nhỏ nhất), ví dụ: một cổ phiếu có giá phát hành $25 có thể có mệnh giá 1 xu. Cổ phiếu phi mệnh giá sẽ không in mệnh giá lên trên giấy chứng nhận cổ phần. Thay cho giá chuẩn, một số bang của Mỹ cho phép cổ phiếu phi mệnh giá có một mức giá công bố, do ban giám đốc của công ty đưa ra, có chức năng tương tự như giá chuẩn là đặt ra mức vốn pháp định mà công ty phải có sau khi trả hết cổ tức hay mua lại tất cả cổ phiếu của nó. Đối với cổ phiếu ưu đãi thì mệnh giá vẫn còn có ý nghĩa, khi mà nó phản ánh mức giá phát hành của cổ phiếu đó. Nó là căn cứ để tính toán cổ tức. Với cổ phiếu phổ thông có khả năng thu hồi thì mệnh giá cũng khá quan trọng, giá thu hồi thường chính là mệnh giá hoặc một mức phần trăm cố định của mệnh giá. Ở Mỹ, việc các công ty phát hành cổ phiếu dưới mệnh giá để làm loãng vốn danh nghĩa là hợp pháp. Tuy nhiên, việc này sẽ làm phát sinh nghĩa vụ nợ của công ty đối với người mua cho phần chênh lệch giữa mệnh giá và giá thực thanh toán. Trên thị trường trái phiếu, giá chuẩn là mức giá ngang bằng với mệnh giá trái phiếu. Trái phiếu kho bạc Mỹ được phát hành với mệnh giá $1000, nhưng giá giao dịch của nó được niêm yết dưới dạng (xx:yy), hai số đầu là số phần trăm, hai số tiếp theo tính theo 1/3200. Ví dụ: giá ghi 100:00 được hiểu là giá chuẩn, tương đương với mệnh giá, giá 75:31 nghĩa là trái phiếu đó có giá (75+31/32)/100 x 1000 = $759.6875 - giá chiết khấu trước thời hạn. Hiện nay chỉ còn các loại trái phiếu, tín phiều kho bạc Mỹ là áp dùng cách yết giá 1/32 thế này, còn tất cả các loại trái phiếu khác đều yết giá theo %. Ngoài ra, trên thị trường tiền tệ, khi hai đồng tiền được trao đổi ở mức giá ngang nhau, thì người ta cũng nói là nó được trao đổi ở mức giá chuẩn. Ví dụ: năm 1964, Trinidad và Tobago chuyển từ đồng Dollar Đông Ấn sang đồng Dollar Trinidad & Tobago, mỗi đồng dollar cũ được đổi lấy 1 đồng dollar mới.
Par Value / Mệnh Giá
Thuật Ngữ
09-10-2025
Chia sẻ bài viết
Nội Dung Liên Quan Đến Thuật Ngữ
Economic Base Multiplier / Nhân Tử Cơ Sở Kinh Tế
09-10-2025
Một dạng của nhân tử khu vực ước tính ảnh hưởng của những thay đổi trong một cơ sở kinh tế vùng đối với toàn bộ nền kinh tế của vùng.Operational Audit / Kiểm Toán Hoạt Động
09-10-2025
Trong phân loại kiểm toán, kiểm toán hoạt động là một quá trình đánh giá có hệ thống về sự hữu hiệu, tính hiệu quả, và tính kinh tế của các hoạt động dưới sự kiểm soát của nhà quản lý và báo cáo cho các cá nhân thích hợp về kết quả của việc đánh giá, đồng thời đưa ra những kiến nghị để cải tiến.Par Rate Of Exchange / Tỷ Giá Hối Đoái Tương Đương
09-10-2025
Việc thể hiện các tỷ giá hối đoái bằng vàng hoặc đồng Mỹ.Operating Surplus / Thặng Dư (Operating Surplus)
09-10-2025
Được đánh giá gần như là một biện pháp của việc quản lý dòng ngân lưu của công ty dựa trên dữ liệu từ báo cáo thu nhập của công ty. Thặng dư được tính bằng cách dựa vào thu nhập trước khi khấu trừ chi phí lãi vay, thuế, khấu hao tài sản cố định và sự thanh toán nợ, hay còn được gọi là lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBITDA) hoặc dòng tiền hoạt động.Economic Base / Cơ Sở Kinh Tế
09-10-2025
Những hoạt đông kinh tế mà sự tăng trưởng và phát triển của chúng được coi là có vai trò quyết định đối với tăng trưởng kinh tế của một vùng hay của một thị trấn.
