Một kỹ thuật đánh giá dự án trong cách ước đang phát triển đã được người ta chú ý rộng rãi. Các tác giả nhấn mạnh vào sự méo mó cả trong sản phẩm và thị trường yếu tố sản xuất là điểm khởi đầu cho phương pháp luận của mình. Phương pháp của họ thực chất là Phân tích chi phí – lợi ích trong đó người ta điều chỉnh theo giá cả yếu tố sản xuất và sản phẩm cũng như lãi suất. Gía trị chuẩn của họ là thu nhập không cam kết xã hội trong tay của chính phủ và được tính bằng ngoại tệ chuyển đổi. Họ lý luận rằng toàn bộ chi phí và lợi ích của dự án có tác động đối với cán cân thanh toán và cho rằng các giá trị ngoại hối có khả năng phản ánh đúng hơn các chi phí và lợi ích xã hội tương đối của các hàng hóa và dịch vụ khác nhau ở nước đang phát triển. Các tác giả cũng lý luận rằng thêm một đơn vị tiêu dùng thì kém giá trị hơn so với thêm một đơn vị đầu tư. Tiêu dùng thêm từ một dự án, tuy nhiên, có giá trị xã hội nhất định, tiêu dùng thêm này phải được đánh giá theo giá trị chuẩn. Bởi vì tiết kiệm ít hơn mức tối ưu xã hội nên thêm một đơn vị thu nhập được cho là có giá trị hơn so với thêm một đơn vị tiêu dùng cá nhân. Giá mờ của lao động sử dụng trong đánh giá dự án được tính toán theo các ý tưởng này. Nó tương đương sản phẩm biên của lao động trong nghề thay thế của nó cộng với chi phí xã hội của việc cung cấp cho tiêu dùng thêm của người công nhân sử dụng (có thể) ở mức lương cao hơn nhiều trừ đi lợi ích được đo bằng thu nhập xã hội của tiêu dùng thêm đó. Trong phân tích khác, Little – Mirrlees sử dụng khái niệm lãi suất kế toán và lãi suất tiêu dùng. Lãi suất kế toán là tỷ lệ mà tại đó giá trị thu nhập của chính phủ giảm theo thời gian. Độ lớn của nó phụ thuộc vào tỷ suất lợi tức xã hội trên các dự án công cộng tăng thêm, phần được tiết kiệm trong lương của thu nhập chính phủ so với tiêu dùng cá nhân. Việc xác định yếu tố cuối cùng cần phải có thông tin về lãi suất tiêu dùng. Đây là lãi suất mà tiêu dùng tương lai cần có để chiết khấu nhằm để nó bằng mức tiêu dùng hiện tại. Trong việc đánh giá đầu ra và đầu vào, Little – Mirrlees phân chia hàng háo thành hàng hóa được buôn bán và không được buôn bán. Hàng hóa được buôn bán bao gồm những hàng hóa sẽ được xuất hoặc nhập khẩu nếu như quốc gia đó cóa chính sách buôn bán hợp lý, và hàng hóa không được buôn bán là hàng hóa sẽ không tham gia vào thương mai của thế giới ngay cả khi không có hạn chế đối với thương mại. Hàng hóa được buôn bán được bán với giá trên thế giới hay ở biên giới với việc hàng hóa xuất khẩu được định giá theo FOB và hàng nhập khẩu theo giá CIF. Hàng hóa không được buôn bán được chia nhỏ thành các yếu tố cấu thành (như được buôn bán, không được buôn bán, lao động và ngoại hối). Cuối cùng bằng việc đánh giá đầu vào (cà đầu vào chuyển thành các đầu vào khác) người ta có thể tìm ra chi phí tính bằng lao động và ngoại hối. Lao động được định giá tính theo mức tiền lương bóng tính bằng ngoại hối. Người ta đã phê bình phương pháp này của Little và Mirrlees. Một số nhà kinh tế cho rằng giá trị trong nước là các chỉ số tốt hơn về CHI PHÍ CƠ HỘI so với giá trị ngoại hối. Tương tự, nếu có sự dư thừa công suất trong một ngành nào đó thì việc tăng cầu đối với một sản phẩm nào có liên quan có thể không ảnh hưởng đến cán cân thương mại. Người ta lý luận rằng sẽ không logic nếu nói rằng chỉ tăng tiêu dùng cá nhân thì không có giá trị bằng đầu tư và tiết kiệm. Người ta cũng lý luận rằng cải thiện phúc lợi có thể được tiến hành nếu giảm tiêu dùng hiện tại và tăng đầu tư.
Little – Mirrlees Method / Phương Pháp Little – Mirrlees
Thuật Ngữ
09-10-2025
Chia sẻ bài viết
Nội Dung Liên Quan Đến Thuật Ngữ
International Trade Organization / Tổ Chức Thương Mại Quốc Tế - ITO
09-10-2025
Hội nghị Bretton Woods vào năm 1944 đã đề xuất thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO) nhằm thiết lập các quy tắc và luật lệ cho thương mại giữa các nước. Hiến chương ITO được nhất trí tại Hội nghị của Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Việc làm tại Havana tháng 3 năm 1948.Little - Mirrlees Method / Phương Pháp Little - Mirrlees
09-10-2025
Một kỹ thuật đánh giá dự án trong các NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN đã được chú ý rộng rãi.Dividend Paying Agent / Nhân Viên Chi Trả Cổ Tức
09-10-2025
Divend Paying Agent có nghĩ là: Nhân viên chi trả cổ tức.Thuật ngữ này dùng để chỉ nhân viên công ty, thường là ngân hàng thương mại được chỉ định chịu trách nhiệm chi trả cổ tức hàng quý cho cổ đông có tên trong danh sách. Người này có thể hoặc không thể giống như nhân viên chuyển giao (Transfer Agent) là người theo dõi thu hồi và phát hành chứng khoán mới.Cartel / Các-Ten
09-10-2025
Các-ten (Cartel) là khái niệm chỉ một tổ chức các thành viên tự nguyện liên kết theo phương thức cam kết đồng thuận. Các-ten thường sinh ra do một mục tiêu chung là tập hợp các tổ chức và đối tượng cùng ngành nghề để có thể khống chế thị trường bằng quyền lực kinh tế do các thành viên các-ten mang lại.Listed Security / Chứng Khoán Niêm Yết
09-10-2025
Chứng khoán đã được phê duyệt cho những mục đích kinh doanh bằng sự trao đổi được công nhận và điều chỉnh.Chứng khoán niêm yết có lợi thế về khả năng thanh toán cao trong một môi trường điều hòa. Thêm vào đó, các nhà đầu tư có thể tìm kiếm những thông tin chính xác về tất cả các công ký đã đăng ký.Tại Mỹ, những chứng khoán này phải được công nhận mua bán bởi một trong các sàn giao dịch có tổ chức và đăng kí, các sàn giao dịch này liệt kê hơn 6.000 loại chứng khoán của khoảng 3.500 công ty.
