Khả năng thanh toán của doanh nghiệp là năng lực về tài chính mà doanh nghiệp có được để đáp ứng nhu cầu thanh toán các khoản nợ cho các cá nhân, tổ chức có quan hệ cho doanh nghiệp vay hoặc nợ. Năng lực tài chính đó tồn tại dưới dạng tiền tệ (tiền mặt, tiền gửi …), các khoản phải thu từ các cá nhân mắc nợ doanh nghiệp, các tài sản có thể chuyển đổi nhanh thành tiền như: hàng hóa, thành phẩm, hàng gửi bán. Các khoản nợ của doanh nghiệp có thể là các khoản vay ngắn hạn ngân hàng, khoản nợ tiền hàng do xuất phát từ quan hệ mua bán các yếu tố đầu vào hoặc sản phẩm hàng hóa doanh nghiệp phải trả cho người bán hoặc người mua đặt trước, các khoản thuế chưa nộp ngân hàng nhà nước, các khoản chưa trả lương. Với quan niệm khả năng thanh toán của doanh nghiệp như vậy, việc tính khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp theo công thức: Khả năng thanh toán ngắn hạn = Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn / Nợ ngắn hạn Theo công thức trên, khả năng thanh toán của doanh nghiệp sẽ là tốt nếu tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn chuyển dịch theo xu hướng tăng lên và nợ ngắn hạn chuyển dịch theo xu hướng giảm xuống; hoặc đều chuyển dịch theo xu hướng cùng tăng nhưng tốc độ tăng của tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn lớn hơn tốc độ tăng của nợ ngắn hạn; hoặc đều chuyển dịch theo xu hướng cùng giảm nhưng tốc độ giảm của tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn nhỏ hơn tốc độ giảm của nợ ngắn hạn. Tuy nhiên ở đây xuất hiện mâu thuẫn: Thứ nhất, khả năng thanh toán của doanh nghiệp là chỉ tiêu phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp, không thể nói tình hình tài chính của doanh nghiệp là không tốt nếu khả năng thanh toán ngắn hạn lớn. Nhưng khả năng thanh toán ngắn hạn lớn có thể do: các khoản phải thu (tức nợ không đòi được hoặc không dùng để bù trừ được) vẫn còn lớn, hàng tồn kho lớn (tức nguyên vật liệu dự trữ quá lớn không dùng hết và hàng hóa, thành phẩm tồn kho không bán được không đối lưu được) tức là có thể có một lượng lớn Tài sản lưu động tồn trữ lớn, phản ánh việc sử dụng tài sản không hiệu quả, vì bộ phận này không vận động không sinh lời.. Và khi đó khả năng thanh toán của doanh nghiệp thực tế sẽ là không cao nếu không muốn nói là không có khả năng thanh toán. Thứ hai, tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn có thể được hình thành từ vốn vay dài hạn như tiền trả trước cho người bán; hoặc được hình thành từ nợ khác (như các khoản ký quỹ, ký cược …) hoặc được hình thành từ nguồn vốn chủ sở hữu. Chính vì thế có thể vốn vay ngắn hạn của doanh nghiệp nhỏ nhưng nợ dài hạn và nợ khác lớn. Nếu lấy tổng tài sản lưu động chia cho nợ ngắn hạn để nói lên khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp thì chẳng khác gì kiểu dùng nợ để trả nợ vay. Chính vì vậy, không phải hệ số này càng lớn càng tốt. Tính hợp lý của hệ số này phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh, ngành nghề nào có tài sản lưu động chiếm tỷ trọng cao như Thương mại trong tổng tài sản thì hệ số này cao và ngược lại.
Liquidity Ratio / Hệ Số Khả Năng Thanh Toán Nợ Ngắn Hạn
Thuật Ngữ
09-10-2025
Chia sẻ bài viết
Nội Dung Liên Quan Đến Thuật Ngữ
International Monetary Fund / Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế
09-10-2025
Quỹ tiền tệ quốc tế (tiếng Anh là International Monetary Fund, viết tắt IMF) là một tổ chức quốc tế giám sát hệ thống tài chính toàn cầu bằng theo dõi tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán, cũng như hỗ trợ kỹ thuật và giúp đỡ tài chính khi có yêu cầu.Quỹ tiền tệ quốc tế được thánh lập năm 1944 tại Bretton Woods. Ngày 27/12/1945, điều lệ thành lập IMF đã được 29 nước ký kết.Carry Trades / Đồng Tiền Quốc Gia Được Yêu Thích
09-10-2025
Những đồng tiên quốc gia được yêu thích được goi là Carry Trades, trong đó các nhà đầu tư sử dụng tiền có chi phí đi vay thấp hơn và đầu tư vào đồng tiền có tỉ suất sinh lợi (tỉ suất lợi nhuận) lớn hơn, để kiếm chênh lệch giữa giá đi vay và giá cho vay. Nhưng rủi ro mà những đồng tiền giá rẻ đó đem lại có thể lấn át lợi nhuận.International Monetarism / Chủ Nghĩa Trọng Tiền Quốc Tế
09-10-2025
Một trường phái tư tưởng cho rằng những thay đổi của MỨC CUNG TIỀN thế giới là nguồn gốc cơ bản tạo ra sức ép lạm phát và giảm phát trong nền kinh tế thế giới.Liquidity Preference Theory / Lý Thuyết Ưa Thích Tiền Mặt
09-10-2025
Theo trường phái Keynes thì nhà đầu tư mong muốn giữ tiền bằng tài sản có tính thanh khoản cao thí dụ như tài khoản Séc - hơn là giữ tiền trong tài sản có tính thanh khoản kém như chứng khoán, trái phiếu, bất động sản. Việc ưa thích này được giải thích như sau:Động cơ thúc đẩy giao dịch mua bán hay sự mong muốn có tiền sẵn để chi dùng khi cần.Động cơ phòng xa, có đặc tính là người ta lưỡng lự khi để tiền dính cứng vào tài sản khó chuyển đổi ra tiền mặt.Động cơ đầu cơ, họ tin rằng lãi xuất thị…International Liquidity / Thanh Khoản Quốc Tế
09-10-2025
Phân tích đến cùng, các khoản nợ giữa các nước khác nhau được giải quyết bằng cách chuyển giao các phương tiện thanh toán được quốc tế chấp nhận như: vàng, một hoặc nhiều ĐỒNG TIỀN DỰ TRỮ chủ yếu, hoặc trong phạm vi hẹp hơn là các QUYỀN RÚT TIỀN ĐẶC BIỆT (SDRs).
