Tiền pháp định là công cụ thanh toán mà, theo luật pháp qui định, không thể bị từ chối khi được sử dụng để thanh toán các khoản nợ được ghi nợ theo cùng đơn vị tiền tệ đó. Tiền pháp định là vị thế pháp lý được gán cho một số loại tiền nhất định, tùy thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có yếu tố mệnh giá, số lượng tiền. Thuật ngữ tiền pháp định bản thân nó không có nghĩa là tiền. Do việc định nghĩa khác nhau trong các luật cho nên, khái niệm tiền pháp định rất hay bị hiểu nhầm. Séc, thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ và các phương tiện thanh toán phi tiền mặt tương tự nhìn chung không được coi là tiền pháp định. Chỉ có một số loại tiền xu và tiền giấy nhất định thường được coi là tiền pháp định. Theo qui định pháp lý của một số nước, người ta cấm hoặc hạn chế việc thanh toán bằng bất kỳ phương tiện thanh toán nào khác ngoài tiền pháp định. Ví dụ, luật của một nước nào đó có thể sẽ coi việc sử dụng tiền xu và giấy bạcngân hàng của nước khác là bất hợp pháp và qui định các giao dịch tài chính bằng ngoại tệ muốn thực hiện phải có giấy phép. Trong một số hệ thống luật pháp, tiền pháp định có thể không được chấp nhận làm công cụ thanh toán nếu như không có nghĩa vụ nợ nần nào tồn tại trước thời điểm thanh toán. Kết quả là, những nhân viên các hãng vận tải hành khách hoặc các máy bán hàng tự động có thể từ chối những tờ tiền giấy có mệnh giá quá lớn dùng để trả tiền vé xe hoặc để mua một thanh kẹo chocolate, thậm chí những người bán hàng cũng có thể không nhận tiền giấy mệnh giá lớn. Tuy nhiên, các nhà hàng không thu tiền trước khi kết thúc bữa ăn sẽ phải chấp nhận loại tiền pháp định này đối với việc thanh toán cho nghĩa vụ nợ phát sinh sau khi khách hàng thanh toán sau bữa ăn. Tiền pháp định theo qui định của một số nước trên thế giới: Ở Mỹ: tiền xu và tiền giấy (bao gồm tiền giấy của Cục dự trữ liên bang và giấy bạc lưu thông của Ngân hàng dự trữ liên bang và các ngân hàng quốc gia), là tiền pháp định đối với mọi nghĩa vụ nợ nần, các khoản đóng góp công cộng, thuế và phí. Tiền xu bằng vàng, bạc của nước ngoài không được coi là tiền pháp định với các nghĩa vụ nợ nần. Không có một qui định liên bang nào khác cấm các công ty tư nhân, các cá nhân hay các tổ chức từ chối hoặc chấp nhận một phương thức thanh toán khác. Ví dụ, các đối tượng nói trên hoàn toàn được tự do trong việc chấp nhận các thanh toán bằng thẻ tín dụng, hoặc từ chối nhận giấy bạc ngân hàng có mệnh giá lớn. Một số cửa hàng nhỏ ở Mỹ có chính sách không chấp nhận tiền giấy mệnh giá lớn (thông thường là trên $20) vào một thời điểm nào đó hoặc trong suốt cả ngày, việc này cho phép họ giữ một số lượng tiền không quá lớn trong quỹ và giảm được nguy cơ bị cướp, đồng thời chịu rủi ro không lớn lắm đối với việc nhận phải tiền giả. Ở Vương quốc Anh, chỉ tiền xu mệnh giá 1 Bảng và 2 Bảng được coi là tiền pháp định với số lượng không hạn chế trên khắp lãnh thổ Vương quốc Anh. Tiền giấy không được cơ quan lập pháp của Anh coi là tiền pháp định trên toàn Vương quốc Anh. Hiện nay, các đồng xu 20 xu và 50 xu được coi là tiền pháp định với số lượng không quá 10 Bảng Anh, đồng xu 10 xu và 5 xu với số lượng không quá 5 Bảng, đồng xu 1 xu và 2 xu với số lượng không quá 20 xu. Ở Thụy Sĩ và Liechtenstein, đồng Franc Thụy Sĩ là loại tiền pháp định duy nhất. Các khoản thanh toán bao gồm tối đa 100 đồng xu Thụy Sĩ được coi là tiền pháp định, còn giấy bạc ngân hàng là tiền pháp định với số lượng không hạn chế. Trong khu vực châu Âu, đồng xu và giấy bạc Euro trở thành tiền pháp định ở hầu hết các quốc gia của khu vực này từ 1.1.2002. Nhìn chung các nước bao giờ cũng qui định rõ loại tiền, mệnh giá, và tổng số tiền thanh toán tối đa để khoản thanh toán ấy được coi là tiền pháp định. Trong trường hợp tiền xu và giấy bạc ngân hàng của một nước được thay thế bằng loại tiền mới với cùng đơn vị tiền tệ, thì tiền mới sẽ đương nhiên trở thành tiền pháp định thay thế cho các loại tiền cũ.
Legal Tender, Forced Tender / Tiền Pháp Định
Thuật Ngữ
09-10-2025
Chia sẻ bài viết
Nội Dung Liên Quan Đến Thuật Ngữ
Inside Lag / Độ Trễ Bên Trong
09-10-2025
Sự chậm trễ giữa việc nhận thức ra nhu cầu phải có hành động chính sách và sự thực hiện chính sách.Bond / Trái Phiếu
09-10-2025
Mặc dù nó có một số nghĩa hẹp hơn và chính xác hơn về mặt pháp lý, cụm thuật ngữ này được dùng chung hơn và lỏng lẻo hơn để chỉ bất cứ chứng khoán lãi suất cố định (nợ) nào, ví dụ: chứng khoán VIỀN VÀNG hay TRÁI KHOÁN CÔNG TY.Input Orientation / Định Hướng Theo Đầu Vào
09-10-2025
Xu hướng của một số phương thức sản xuất và chế tạo muốn ở gần nguồn nguyên vật liệu hay đầu vào.Input - Output / Đầu Vào - Đầu Ra (I-O), Bảng Cân Đối Liên Ngành
09-10-2025
Một phương pháp phân tích trong đó nền kinh tế được thể hiện bằng một tập hợp các HÀM SẢN XUẤT TUYẾN TÍNH mô tả mối quan hệ tương tác giữa các ngành.Innovations / Phát Kiến; Sáng Kiến
09-10-2025
Thường được sử dụng thay cho từ "phát minh" và chỉ những tiến bộ về công nghệ trong quá trình sản xuất cũng như việc tạo ra những thuộc tính khác nhau và kết hợp các thuộc tính trong các sản phẩm có thể trao đổi được.
