Tòa SA5 Vinhomes Smart City Tây Mỗ, Nam Từ Liêm, Hà Nội.
Hotline / Zalo: 0966.246.800
Email: letam.calico@gmail.com
Dẫn đường: Đến Goolge Map

Globalization / Toàn Cầu Hóa

Thuật Ngữ 09-10-2025

Toàn cầu hoá là sự gia tăng quá trình tương tác lẫn nhau giữa con người và khu vực dưới tác động của các tiến bộ trong giao thông, thông tin liên lạc, và công nghệ dẫn đến sự hội tụ về chính trị, kinh tế và văn hóa. Thuật ngữ Toàn cầu hóa có thể đã được sử dụng từ năm 1944. Thuật ngữ được các nhà kinh tế học sử dụng từ năm 1981, tuy nhiên các khái niệm xung quanh vấn đề này không nhận được sự được hiểu biết rộng rãi mãi cho đến nửa sau của thập kỉ 1990. Rất nhiều các nhà nghiên cứu khoa học xã hội đã cố gắng mô tả sự nối tiếp của các xu hướng trong các thời kì trước với thời đại ngày nay. Kỉ nguyên toàn cầu hóa đầu tiên diễn ra trong suốt thế kỉ 19 chính là sự phát triển nhanh chóng trong thương mại giữa Châu Âu, các thuộc địa của Châu Âu và Mỹ. Sau Thế chiến II, toàn cầu hóa lại tiếp diễn và được lái đi bởi các tiến bộ trong công nghệ, dẫn tới giảm thiểu giá của các giao dịch kinh tế. Toàn cầu hoá được xem như một quá trình dài, theo sau sự gia tăng dân số và những tiến bộ của văn minh nhân loại, đã phát triển chóng mặt trong 50 năm qua. Những hình thức đầu tiên của toàn cầu hóa đã tồn tại trong thời kì Đế Chế La Mã, đế chế Parthia, và Vương Triều nhà Hán, khi con đường tơ lụa được bắt đầu ở Trung Quốc, trải dài tới biên giới của Đế chế Parthia, và tiếp tục kéo dài tới Rome. Thời kì vàng kim của Hồi giáo cũng là một ví dụ, khi đó các thương gia người Hồi giáo và các nhà thám hiểm đã thiết lập nên một nền kinh tế toàn cầu thời kì đầu dẫn đến sự phổ biến kĩ thuật nông nghiệp, thương mại, tri thức và công nghệ; và sau đó là trong thời kì mở rộng của Mông Cổ, khi đó có sự giao lưu rộng lớn hơn giữa con người và các vùng đất dọc theo chiều dài của Con đường tơ lụa. Hội nhập toàn cầu tiếp tục thông qua sự mở rộng của thương mại Châu Âu vào thế kỉ thứ 16 và 17, khi đế quốc Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha vươn tới mọi ngõ ngách của thế giới sau khi mở rộng sang các nước ở Châu Mỹ. Tự do hoá ở thế kỉ 19 đôi khi cũng được gọi là Kỉ nguyên đầu tiên của toàn cầu hoá, một thời kì đánh dấu sự phát triển nhanh chóng trong thương mại và đầu tư quốc tế giữa Châu Âu, các lục địa của Châu âu và Mỹ. Kỉ nguyên đầu tiên của toàn cầu hóa bắt đầu tan vỡ với sự bắt đầu của Thế chiến I, và sau đó là sụp đổ dưới thời kì Sụp đổ của chế độ bản vị vàng cuối những năm 20 đầu những năm 30. Toàn cầu hoá sau Thế chiến II là kết quả của những chiến lược của các nhà kinh tế, và chính trị gia, những người nhận ra sự gia tăng chi phí dưới tác động của bảo hộ và suy giảm hội nhập kinh tế. Những kế hoạch của họ dẫn tới hội nghị Bretton Woods và thành lập một số tổ chức quốc tế nhằm mục đích giám sát các quá trình toàn cầu hóa, thúc đẩy tăng trưởng và điều chỉnh các hậu quả không như mong đợi. Đó là Ngân hàng quốc tế về phục hồi và phát triển (Ngân hàng thế giới) và Quỹ tiền tệ quốc tế. Toàn cầu hoá đã được tạo điều kiện thuận lợi bởi sự phát triển về công nghệ dẫn đến giá giao dịch giảm, và các vòng đàm phán thương mại mởi đầu với GATT, dẫn tới một loạt các hiệp định nhằm dỡ bỏ rào cản thương mại. Vòng đàm phán Uruguay từ 1984-1995 dẫn tới một hiệp ước nhằm thành lập Tổ chức thương mại thế giới để giải quyết các tranh chấp thương mại và thành lập một sân chơi thống nhất về thương mại. Và hàng loạt các hiệp ước thương mại song phương và đa phương khác như Hiệp ước Maastricht của Châu âu, Hiệp ước NAFTA cũng được kí nhằm mục đích giảm thiểu thuế quan và các rào cản thương mại. Những quan điểm ủng hộ thương mại tự do cho rằng toàn cầu hóa làm gia tăng mức độ sung túc cũng như cơ hội, đặc biệt là đối với các quốc gia đang phát triển, làm tăng cường các quyền tự do và dẫn tới phân bổ nguồn lực tự nhiên hiệu quả hơn (dựa trên lợi thế tương đối). Những người phản đối toàn cầu hoá thì cho rằng toàn cầu hóa dẫn đến nguy hại cho hành tinh dưới góc độ phát triển không bền vững gây ảnh hưởng xấu tới sinh quyển, làm gia tăng nghèo đói, bất bình đẳng, bất công bằng, và xói mòn trong văn hoá truyền thống dưới kết quả của sự giao lưu kinh tế liên quan đến toàn cầu hóa.

Chia sẻ bài viết

Nội Dung Liên Quan Đến Thuật Ngữ

Wall Street / Phố Wall

Wall Street / Phố Wall

09-10-2025

Tên phổ biến cho khu vực tài chính tại thành phố New York nơi đặt trụ sở giao dịch của Sở Giao dịch Chứng khoán New York, Sở giao dịch chứng khoán Mỹ, các công ty chứng khoán hàng đầu và một vài ngân hàng và các công ty bảo hiểm lớn. Theo nghĩa phổ biến hơn, thuật ngữ này có phạm vi rộng hơn, đề cập ngành ngân hàng đầu tư và môi giới chứng khoán, không xét đến trụ sở thực sự của các công ty ở đâu.
Global Industry Classification Standard ( GICS) / Tiêu Chuẩn Phân Loại Các Ngành Công Ngiệp Toàn Cầu

Global Industry Classification Standard ( GICS) / Tiêu Chuẩn Phân Loại Các Ngành Công Ngiệp Toàn Cầu

09-10-2025

Global Industry Classification Standard ( GICS) được phát triển bởi Morgan Stanley Capital International (MSCI) và Standard & Poor's vào năm 1999. GICS được đưa ra nhằm thiết lập một tiêu chuẩn chung cho việc phân loại các công ty vào các ngành và nhóm ngành có liên quan với nhau.GICS được xây dựng theo các tiêu chí:- Universal (Toàn cầu)- Accurate (chính xác)- Flexible (linh hoạt)- Elvolving (phát triển)Hiện nay, GICS bao gồm 10 nhóm ngành chính (sectors), 24 nhóm ngành (industry groups)…
Wagner's Law / Định Luật Wagner

Wagner's Law / Định Luật Wagner

09-10-2025

Một giả thuyết, do nhà kinh tế học Đức Adolph Wagner xây dựng vào cuối thế kỷ XIX, nói rằng sự phát triển của nền kinh tế công nghiệp hoá sẽ đi đôi với việc tăng phần chi tiêu công cộng trong tổng sản phẩm quốc dân.
Wages Structure / Cấu Trúc Tiền Công

Wages Structure / Cấu Trúc Tiền Công

09-10-2025

Các thứ hạng tiền lương của các nhóm công nhân phân theo ngành, địa điểm làm việc theo nhóm nghề nghiệp hoặc chủng tộc.
Glejser Test / Kiểm Định Glejser

Glejser Test / Kiểm Định Glejser

09-10-2025

Phép kiểm định được sử dụng để nhận dạng vấn đề phương sai KHÔNG THUẦN NHẤT trong Số dư của một phương trình hồi quy.
Hỗ trợ trực tuyến