Tư bản giả là tư bản không có giá trị hiện thực, chỉ có danh nghĩa về thu nhập, có quyền hưởng thu nhập. Tư bản giả tồn tại dưới hình thức chứng khoán có giá (cổ phiếu, kỳ phiếu và trái phiếu, công trái, giấy cầm đồ của ngân hàng cầm cố) và tạo khả năng cho những người có chứng khoán thu được giá trị thặng dư dưới hình thức lợi tức cổ phần hoặc lợi tức cho vay. Khác với tư bản thực tế bỏ vào sản xuất (công xưởng, nhà máy, hầm mỏ, v.v...) tư bản giả không có giá trị độc lập và không hoạt động trong quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa. Chứng khoán có giá chỉ là bằng chứng về đầu tư tư bản hoặc về cung cấp tiền vay. Thu nhập hàng năm của người có cổ phiếu gọi là lợi tức cổ phần, còn người có trái khoán nhận được thu nhập đều đặn dưới hình thức lợi tức. Chứng khoán có giá được đem ra mua bán ở sở giao dịch chứng khoán. Từ năm 1840 ông chủ ngân hàng Anh ở Yorkshire đã có nhận xét như sau: "... không thể xác định được trong số kỳ phiếu đó, phần nào do những công việc kinh doanh thực tế tạo ra (thí dụ như do có mua bán thực sự) và phần nào đã được sinh ra một cách giả tạo (fictitions) và chỉ gồm những kỳ phiếu giả, tức là kỳ phiếu phát ra đề rút về trước kỳ hạn một kỳ phiếu khác đang lưu hành, thành thử tạo ra một tư bản giả bằng cách chỉ tạo ra những phương tiện lưu thông đơn thuần mà thôi". Cách phát hành các kỳ phiếu để tạo nên một hệ thống các quan hệ vay mượn nhằng nhịt đã làm cho tư bản giả tăng lên ghê gớm. Ví dụ, hôm nay tôi gửi ở ngân hàng A một triệu đồng, thì mai lượng tiền đó sẽ được ngân hàng A chi ra và hình thành số tiền gửi ở ngân hàng B. Ngày kia nó lại có thể được ngân hàng B chi ra và hình thành một số tiền gửi ở ngân hàng C... Và cứ thế tiếp tục diễn ra, như vậy cái triệu đồng kia sau một loạt chuyển dịch, trao đổi từ ngân hàng này sang ngân hàng khác, từ tay người này sang tay người khác, nó có thể tăng lên mãi. Sự mua đi bán lại các cổ phiếu cũng diễn ra tương tự. Trong kinh tế học thị trường người ta cũng đã phân tích rằng các ngân hàng thương mại tiến hành kinh doanh tiền tệ, làm cho đồng tiền quay vòng và sinh sôi nảy nở, nghĩa là hệ thống ngân hàng, trong quá trình vay và cho vay đã tạo ra tiền mà không phải in thêm, tỷ lệ giữa tiền sinh sôi này nở này với cơ sở tiền tệ gọi là số nhân về tiền (hay còn gọi là hệ số khuếch đại tiền). Việc đầu cơ ở sở giao dịch chứng khoán (mà có nhà kinh tế đã từng phát biểu rằng "kinh doanh và đầu cơ nhiều khi gắn chặt với nhau đến nỗi khó mà nói được rằng tới mức nào thì thôi không còn là kinh doanh nữa và bắt đầu từ đâu là đầu cơ") dẫn đến phân phối lại tư bản tiền tệ giữa các nhà tư bản, nó là công cụ của bọn tư bản lớn cướp đoạt những người có ít chứng khoán, đồng thời làm tăng số tư bản giả lên. Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, các quan hệ kinh tế trở nên đa dạng và rất phức tạp, tư bản giả cũng tăng lên rất nhanh so với tư bản tồn tại thực tế. Sự tăng lên quá mức về tư bản giả so với tư bản thực tế đã gây ra trong lịch sử thế giới nhiều cuộc khủng hoảng chu kỳ gây tác hại ghê gớm. Lịch sử đã chứng kiến tình trạng mất giá khủng khiếp của các chứng khoán nhà nước và các cổ phiếu trong cuộc khủng hoảng tiền tệ xảy ra năm 1847. Từ đó đến nay, không thập niên nào là không có một vài cuộc khủng hoảng tiền tệ lớn nhỏ khác nhau. Sau cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Mê hi cô (năm 1994) thì gần đây nhất là vào những tháng cuối năm của năm 1997 cuộc đại khủng hoảng tiền tệ bắt đầu từ Thái Lan, Hồng Kông đã làm chấn động cả thế giới. Riêng ở Mỹ ngày 27/10/1997 chỉ số Dow Jones đã giảm tới 594,26 điểm, thấp hơn 7,2% so với mức sụt giảm kỷ lục (508 điểm) cách đây 10 năm. Một trong số các nguyên nhân cơ bản của hiện tượng trên là đại đa số dân Mỹ (ước tính 3/4 dân số) đều đem một phần tài sản của mình đầu tư vào thị trường chứng khoán, với hy vọng thu lợi tức cổ phần và lãi vốn. Lợi tức cổ phần thì phụ thuộc vào hoạt động cụ thể của từng công ty, còn lãi vốn là khoản chênh lệch thu lại do dự đoán chính xác về biến động trong trị giá cổ phiếu. Việc công chúng Mỹ đổ xô vào đầu cơ cổ phiếu đã tạo nên cái gọi là "hiệu ứng của cải". Suốt 15 năm nay nạn đầu cơ, đặc biệt là đầu cơ giá lên (dự đoán giá lên và quyết định mua cổ phiếu vào để sau một thời gian bán ra để thu lãi) đã đẩy giá chứng khoán tăng lên quá cao so với tư bản thực tế. Và khi có một chấn động nhỏ ở nơi nào đó, gây ra tâm lý muốn bán tống bán tháo các cổ phiếu đi thì lập tức sẽ đẩy giá chứng khoán xuống dốc. Người ta đã thống kê được rằng số lượng chứng khoán có giá phát hành từ năm 1919 đến năm 1929 (trong vòng 10 năm) đã tăng lên 300%, trong khi cùng thời gian đó, sản xuất công nghiệp chỉ tăng lên 43%. Và những năm cuối của thế kỷ 20 này số lượng tư bản giả đã tăng lên con số khủng khiếp, gấp 30 lần số lượng tư bản thực tế. Một trong những nguyên nhân làm cho tư bản giả tăng nhanh với gia tốc ngày một lớn là số xí nghiệp cổ phần tăng, thị giá cổ phiếu cao vọt vì lợi nhuận độc quyền tăng lên và tỷ suất lợi tức giảm xuống, số nợ của nhà nước tăng thêm. Tiếp đến là do các quan hệ tiền tệ phát triển đã làm cho quá trình quốc tế hóa các nền kinh tế, quá trình xã hội hóa sản xuất phát triển nhanh, dẫn đến sự hình thành một thị trường thế giới, việc mua bán, đầu cơ cá chứng khoán, kỳ phiếu càng trở nên rộng lớn hơn. Nhưng rút cục các nước nghèo vẫn bị các nước giàu chèn ép và bóc lột bằng chính ngay các thủ đoạn đầu cơ tiền tệ bẩn thỉu... Tính chất xã hội hóa cao của lực lượng sản xuất cộng với bản chất cái vỏ bọc nhỏ hẹp của chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa làm cho tư bản giả tăng lên là biểu hiện tính chất ăn bám của chủ nghĩa tư bản ngày càng tăng. Song sự phát triển cao độ của quá trình quốc tế hóa các nền kinh tế, cộng với sự mở rộng thị trường chứng khoán cả chiều rộng lẫn chiều sâu đã làm thay đổi một cách căn bản các quan hệ xã hội. Nghĩa là sự hình thành những nhà máy của các cổ đông, những nhà máy hợp tác tạo nên một kiểu sản xuất mới là "sản xuất tư nhân không có sự kiểm soát của quyền sở hữu tư nhân"... Và điều này đúng như những dự doán khoa học của các nhà kinh điển mác xít rằng "những sự đối kháng giữa tư bản và lao động đã được xóa bỏ trong phạm vi những nhà máy hợp tác đó, mặc dầu buổi đầu nó chỉ được xóa bỏ bằng cách biến những người lao động liên hiệp thành nhà tư bản đối với chính bản thân mình, nghĩa là cho họ có thể dùng tư liệu sản xuất để bóc lột lao động của chính họ". Tính chất hai mặt của các quan hệ tín dụng, tiền tệ dưới chủ nghĩa tư bản đã làm cho chúng, như C.Mác đã khái quát, "vừa là những kẻ lừa đảo, lại vừa là những vị tiên tri".
Fictitious Capital / Tư Bản Giả
Thuật Ngữ
09-10-2025
Chia sẻ bài viết
Nội Dung Liên Quan Đến Thuật Ngữ
European Central Bank / ECB / Ngân Hàng Trung Ương Châu Âu
09-10-2025
Ngân hàng trung ương Châu Âu là một trong những ngân hàng trung ương quan trọng nhất trên thế giới, chịu tách nhiệm ban hành chính sách tiền tệ cho 15 nước thành viên trong khu vực Châu Âu.Ngân hàng trung ương Châu Âu được thành lập bởi Liên Minh Châu Âu (EU) vào năm 1998, trụ sở ở Frankfurt, Đức.ECB có độc quyền ấn định các mức lãi suất cho khu vực Châu Âu. Mục tiêu cơ bản của ECB là duy trì giá cả ổn định trong khu vực Châu Âu, nói cách khác là kiềm chế lạm phát.Feudalism / Chủ Nghĩa Phong Kiến
09-10-2025
Một dạng hệ thống chính trị và kinh tế thống trị ở Châu Âu thời kỳ trung cổ. Chủ nghĩa phong kiến được đặc trưng bởi một tháp xã hội bắt đầu từ người nông dân lệ thuộc thông qua các chúa đất và tước hầu ở "thái ấp" lên đến tận nhà vua.Feedback / Entrapment Effects / Tác Động Phản Hồi/Bẫy
09-10-2025
Giả thiết cho rằng những điều kiện trong thị trường lao động thứ cấp (cấp hai) làm cho công nhân có những thói quen lao đông xấu.Federal Trade Commission Act / Đạo Luật Về Hội Đồng Thương Mại Liên Bang
09-10-2025
Đạo luật này được ban hành ở Mỹ vào năm 1914, nhằm thiết lập một hội đồng (FTC) có khả năng trong các công việc kinh doanh để điều tra "việc tổ chức, chỉ đạo kinh doanh, thủ tục và quản lý" của các công ty hoạt động thương mại giữa các tiểu bang và chống lại "các phương pháp cạnh tranh không công bằng". FTC cũng có nhiệm vụ chống lại "các hoạt động hoặc thủ tục không công bằng, dối trá hoặc có liên quan đến thương mại".European Bank For Reconstruction And Development / Ngân Hàng Tái Thiết Và Phát Triển Châu Âu
09-10-2025
Được thành lập năm 1991 với số vốn 10 tỷ đơn vị tiền tệ Châu Âu nhằm thúc đẩy sự phát triển ở các nước thuộc khối Đông Âu.
