Tòa SA5 Vinhomes Smart City Tây Mỗ, Nam Từ Liêm, Hà Nội.
Hotline / Zalo: 0966.246.800
Email: letam.calico@gmail.com
Dẫn đường: Đến Goolge Map

DSM / Cơ Chế Giải Quyết Tranh Chấp Thương Mại

Thuật Ngữ 09-10-2025

Cơ chế của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) về giải quyết tranh chấp thương mại (sau đây gọi tắt là DSM) với tư cách là một thiết chế của WTO mới chỉ tồn tại hơn 10 năm kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1995 tới nay.Tuy nhiên, cơ chế trước đó - cơ chế giải quyết tranh chấp theo Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) đã tồn tại từ năm 1948 tới năm 1994. Mặc dù cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT, chủ yếu là các quy định của hai Điều XXII và XXIII của GATT, có nhiều điểm bất cập, như việc vận hành theo nguyên tắc đồng thuận (tức là phải có ý kiến đồng ý của cả nước bị kiện) để ra các quyết định, chế tài đối với vi phạm yếu, kém minh bạch, cơ chế mang nặng tính ngoại giao... nhưng trong hơn 40 năm tồn tại thì GATT cũng đã đem lại những kết quả đáng khích lệ, nhất là so với các cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế khác: "... từ  năm 1948 tới hết năm 1988 đã có 207 vụ kiện được khởi kiện ra GATT, trong đó 88 vụ đã đem lại phán quyết cuối cùng và trong số 88 phán quyết này thì có 68 phán quyết tuyên [nước bị đơn] có vi phạm. Riêng trong thập kỷ 1980... đã có 115 đơn kiện đem lại 47 phán quyết trong đó có 40 phán quyết tuyên có vi phạm.... [T]rong 5 năm cuối tồn tại của GATT (1990-1994) [đã có ] 71 đơn kiện đem lại 22 phán quyết, trong đó có 20 phán quyết tuyên có vi phạm..."Vòng đàm phán đa phương Uruguay (1986-1994) được đánh giá là thành công nhất trong các vòng đàm phán trong khuôn khổ GATT về nhiều phương diện, như phạm vi điều chỉnh, số lượng nước tham gia, thành lập được thiết chế quản lý các vấn đề thương mại quốc tế – Tổ chức thương mại thế giới (WTO)... tuy nhiên kết quả của Vòng Uruguay về cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế là một sự tiến bộ có ý nghĩa đặc biệt, đem lại luồng không khí mới cho thể chế thương mại đa phương, nhất là niềm tin của các nước Thành viên vào việc các quy định trong WTO sẽ được thực hiện và bất kỳ vi phạm nào cũng sẽ được điều chỉnh lại thông qua việc áp dụng các quy định về giải quyết tranh chấp của tổ chức này. Cơ chế giải quyết tranh chấp (DSM) mới trong WTO được xây dựng dựa trên các kinh nghiệm và quy định tồn tại trên 40 năm của GATT, nhưng với những sự cải thiện đáng kể về các quy định cụ thể, nhất là về quy trình tố tụng, khẳng định nguyên tắc quan trọng là trong WTO, việc các quốc gia thành viên dù lớn hay nhỏ, giàu hay nghèo, phát triển hay đang phát triển đều có nghĩa vụ bình đẳng trong việc bảo đảm thể chế pháp luật của mình thống nhất với WTO và phải tuân thủ theo cơ chế giải quyết các tranh chấp thương mại liên quan tới các hiệp định WTO.  Các số liệu từ 1/1/1995 cho tới hết năm 2004 thật đáng khích lệ: đã có 324  đơn khởi kiện được đưa ra WTO và thú vị là đơn khởi kiện thứ 324 chính là của Thái lan khởi kiện Hoa kỳ về việc Hoa kỳ áp dụng các biện pháp tạm thời chống bán phá giá tôm nhập khẩu từ Thái lan (tôm xuất khẩu của Việt Nam cũng bị liên quan trong vụ kiện chống bán phá giá này tại Hoa kỳ). Số liệu của WTO cho thấy sự phân bổ các vụ việc trong 10 năm qua (theo số thứ tự của WTO) như sau: năm 1995 vụ từ số 1 tới 22; 1996 vụ từ số 23 tới 64; 1997 vụ từ số 65 tới 110; 1998 vụ từ số 111 tới 154; 1999 vụ từ số 155 tới 185; 2000 vụ từ số 186 tới 215; 2001 vụ từ số 216 242; 2002 vụ từ số 243 tới 276; 2003 vụ từ số 277 tới 304 và năm 2004 vụ từ số 305 tới 324.Các số liệu về vụ việc trên đây có thể được giải thích theo các hướng khác nhau, nhưng một điều rõ ràng là cơ chế DSM đã được sử dụng thường xuyên hơn (số  liệu các vụ tranh chấp trong 10 năm đã vượt quá tổng số các vụ tranh chấp có trong lịch sử gần 50 năm của GATT) và đã khẳng định được vị trí của mình trong hệ thống thương mại đa phương. Một điều quan trọng nữa là cơ chế đã đem lại một sự rõ ràng và lường trước được kết quả giải quyết vụ kiện khi các phán quyết (báo cáo) được cơ quan giải quyết tranh chấp WTO thông qua ngày càng có sự nhất quán, thống nhất cao, nhất là đối với các báo cáo của Cơ quan phúc thẩm. Chính vì vậy mà tỷ lệ các vụ kiện được hoà giải là rất cao (hơn 50%) mà không cần đi hết tố tụng và có khoảng trên 60% các vụ kiện đã được kháng cáo sau khi được xem xét ở cấp Ban hội thẩm (panel). Điều đáng mừng nữa là hầu hết các phán quyết đã được các nước thua kiện tự nguyện thi hành và chỉ có khoảng dưới 10 vụ trong 9 năm tồn tại WTO là cần đến các biện pháp trả đũa để gây sức ép cho nước thua kiện phải thi hành phán quyết, trong đó có các vụ về Thịt bò hocmôn của EC, Chuối của EC, Miễn thuế thu nhập cho các công ty bán hàng ở nước ngoài  của Hoa kỳ, Tu án chính Byrd của Hoa kỳ... đã được nói tới nhiều.Về các quy định điều chỉnh DSM của WTO có thể nêu vắn tắt như sau. So với GATT trước đây thì các quy định của WTO về giải quyết tranh chấp đã có bước phát triển rất lớn. Mặc dù căn cứ khởi kiện là như nhau (Điều XXII và Điều XXIII của GATT), nhưng GATT trước đây về cơ bản chỉ có 2 điều (Điều XXII và Điều XXIII của GATT) về giải quyết tranh chấp. Trong khi đó thì WTO ngoài Điều XXII và Điều XXIII của GATT còn có cả một Thoả thuận DSU gồm 27 điều và 4 phụ lục điều chỉnh toàn bộ các thủ tục tố tụng giải quyết tranh chấp. Bên cạnh đó, trong các tranh chấp liên quan tới một số vấn đề thương mại cụ thể thì còn có các quy định đặc biệt hay bổ sung được quy định tại một số hiệp định liên quan (được liệt kê tại Phụ lục 2 của DSU). Theo Điều 1.2 của DSU thì các quy định đặc biệt hay bổ sung này có giá trị ưu tiên áp dụng trong trường hợp có sự khác nhau giữa các quy định này với các quy định của DSU. Tuy nhiên, các quy định của DSU vẫn được coi là xương sống của cơ chế giải quyết tranh chấp (DSM) của WTO trong việc bảo đảm thi hành các quy định của WTO và có thể tóm tắt như sau:Mốc thời gian cho một quy trình tố tụng thông thường   Thời hạn  Hoạt động tố tụng 60 ngày Tham vấn, trung gian, hoà giải... 45 ngày Thành lập Ban hội thẩm 6 tháng Chuyển báo cáo cuối cùng của Ban hội thẩm cho các bên 3 tuần Chuyển báo cáo cuối cùng của Ban hội thẩm cho WTO 60 ngày DSB thông qua báo cáo (nếu không có kháng cáo) TỔNG: 1 NĂM Khi không có kháng cáo 60-90 ngày Cơ quan phúc thẩm có báo cáo 30 ngày DSB thông qua báo cáo phúc thẩm Tổng: 1 năm và 3 tháng Có kháng cáo 15 tháng Thời hạn tối đa để thi hành phán quyết khi không có kháng cáo (18 tháng nếu có kháng cáo) Tổng 2 năm và 6 tháng Không có kháng cáo Tuy nhiên, sau 10 năm thực hiện thì các quy định của WTO về giải quyết tranh chấp – gồm: DSU và các quy định đặc biệt hay bổ sung của các hiệp định thoả thuận chuyên ngành khác – cũng đã bộc lộ những yếu kém, nhược điểm cần được hoàn thiện. Điều này đã được các nước WTO dự đoán ngay từ đầu vì các quy định về giải quyết tranh chấp của WTO là các quy định mới và có tính thử nghiệm mà cần được rà soát để hoàn thiện. Tuy nhiên, các nỗ lực của các nước vẫn chưa đem lại một sự thống nhất đang kể, mặc dù các nước WTO đã thống nhất tại Hội nghị Bộ trưởng Doha tháng 11/2001 là sẽ “đàm phán về việc hoàn thiện và làm rõ DSU”. Một điều quan trọng đối với đàm phán về DSU là các kết quả đàm phán của nó không được đưa vào trọn gói các kết quả đàm phán Vòng Doha, tức là có thể hiểu làVòng Doha có thể kết thúc mà không có thoả thuận nào về kết quả đàm phán trong Doha.Một câu hỏi đã có người đặt ra là tại sao phải quan tâm tới DSM khi gia nhập WTO? Có lẽ câu hỏi này là quá xa không?- trong bối cảnh Việt Nam chúng ta còn chưa có hiểu biết đầy đủ về cơ chế này, nguồn lực, nhất là con người là rất hạn chế nên có lẽ các vấn đề tranh chấp và giải quyết tranh chấp được coi là vấn đề "tạm gác lại" khi mọi ưu tiên lúc này là cố gắng làm sao gia nhập được WTO và điều không kém phần quan trọng là chúng ta chưa có thói quen đi kiện và bị kiện trong quan hệ với các nước khác. Theo ý kiến của tác giả thì việc nghiên cứu, tìm hiểu và quyết định gia nhập WTO cần được xem xét tổng thể về mọi khía cạnh, trong đó cần có cân nhắc đặc biệt tới  ý nghĩa và vai trò của cơ chế giải quyết tranh chấp. Thực tiễn rà soát pháp luật Việt Nam phục vụ gia nhập WTO vừa qua cho thấy nhiều quy định của các hiệp định trong WTO không phải lúc nào cũng rõ ràng và chỉ tới khi có các tranh chấp cụ thể về các quy định đó thì các nội hàm pháp lý mới được làm rõ. Do đó, ngay từ bây giờ Việt Nam cần có kế hoạch nghiên cứu và chuẩn bị các điều kiện, nhất là các chuyên gia pháp luật thương mại quốc tế để tham gia vào giải quyết tranh chấp sau khi gia nhập WTO vì DSM là cơ chế hiệu quả giải quyết các bất đồng và tranh chấp quốc tế giữa khoảng 150 nước Thành viên WTO. WTO là sân chơi vì quyền lợi kinh tế, thương mại nên các nước sẽ không ngần ngại khởi kiện chúng ta khi họ thấy quyền lợi của họ bị xâm phạm và ngược lại thì chúng ta cũng cần nhanh chóng học hỏi các kinh nghiệm và kỹ năng cần thiết để cũng khởi kiện các nước khi quyền lợi của chúng ta bị xâm phạm. Tức là cơ chế giải quyết tranh chấp (DSM) của WTO là “cái gậy” mà nó có thể được người  khác sử dụng để vụt mình hay mình sử dụng để vụt người khác khi có những tranh chấp, bất đồng. DSM có tác động rất lớn tới các nước tham gia vào vụ kiện, nhất là nước thua kiện: một vấn đề được thảo luận nhiều là vấn đề chủ quyền quốc gia khi một đạo luật hay một bản án nào đó của nước Thành viên bị tuyên là có vi phạm WTO. Chính vì vậy, khi gia nhập WTO, chúng ta cũng cần tính tới các tình huống này, kể cả việc cân nhắc xem địa vị pháp lý của các phán quyết của DSM là như thế nào. Hơn nữa, do các khuyến nghị và phán quyết của WTO làm rõ và có lẽ cả phát triển nhiều quy định của WTO nên việc làm quen và nghiên cứu cơ chế này sẽ giúp Việt Nam hiểu đúng được các nghĩa vụ của mình, nhận biết xu thế phát triển của pháp luật thương mại quốc tế hiện đại. Cuối cùng việc tìm hiểu DSM của WTO cũng giúp chúng ta học hỏi và tham khảo nhiều nguyên tắc và quy định thích hợp, chẳng hạn như các quy định về minh bạch hoá tố tụng, kể cả toàn văn tất cả các phán quyết, Cơ quan xét xử phúc thẩm chỉ xem xét các vấn đề áp dụng pháp luật, tiêu chuẩn, trình độ của những người tham gia xét xử để bảo đảm tính đúng đắn và khách quan của phán quyết...Cuối cùng, là nước đi sau và tham gia vào hội nhập kinh tế quốc tế vào thời điểm khi các quy tắc và chuẩn mực của pháp luật thương mại quốc tế, kể cả các quy định về giải quyết tranh chấp về cơ bản đã được định hình, để tham gia có hiệu quả vào cuộc chơi WTO thì chúng ta cần chuẩn bị tốt các điều kiện cần thiết, trong đó không thể không có việc nhanh chóng xây dựng một đội ngũ chuyên gia pháp luật thương mại quốc tế giỏi về chuyên môn nghiệp vụ mà chúng ta đang rất thiếu và yếu. Công việc xây dựng đội ngũ này cần bắt đầu càng sớm càng tốt. Một điều cần cân nhắc là tham gia vào tranh chấp trong WTO là rất tốn kém và phức tạp nên việc chuẩn bị các điều kiện vật chất cũng là quan trọng. Việc gia nhập WTO không nên tách rời khỏi việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ thành viên của tổ chức này mà về vấn đề này thì "cái gậy" của cơ chế giải quyết tranh chấp là vô cùng quan trọng. Đó cũng là một trong các thách thức lớn của Việt Nam khi gia nhập WTO.

Chia sẻ bài viết

Nội Dung Liên Quan Đến Thuật Ngữ

Charge Card / Thẻ Thanh Toán Tiêu Dùng

Charge Card / Thẻ Thanh Toán Tiêu Dùng

09-10-2025

Đây là loại thẻ tín dụng phi ngân hàng. Khác với thẻ tín dụng do ngân hàng phát hành, thẻ này không yêu cầu phí lãi suất, nhưng đòi hỏi người sử dụng phải thanh toán hết khi nhận được báo cáo, thường là hàng tháng.
Multiplant Operations / Sự Vận Hành Đa Nhà Máy

Multiplant Operations / Sự Vận Hành Đa Nhà Máy

09-10-2025

Những yếu tố thông thường khuyến khích hình thức hoạt động nói trên là các thị trường phân tán về mặt địa lý cùng với chi phí vận chuyển cao, tính kinh tế về chi phí vốn cho sự hoạt động đa nhà máy và mức độ linh hoạt cao hơn trong việc đáp ứng những đòi hỏi của nhu cầu mà hình thức hoạt động đa nhà máy có thể có được.
Non-pecuniary Goals / Những Mục Tiêu Phi Tiền Tệ

Non-pecuniary Goals / Những Mục Tiêu Phi Tiền Tệ

09-10-2025

Là những mục tiêu mà một cá nhân hay tổ chức đanh theo đuổi, những mục tiêu nay không thể được xác định một cách trực tiếp thành những đơn vị tiền tê.
Business Cycle / Chu Kỳ Kinh Doanh

Business Cycle / Chu Kỳ Kinh Doanh

09-10-2025

Chu kỳ kinh doanh (hay còn gọi là chu kỳ kinh tế) là sự biến động của GDP thực tế.Trước đây sự biến động này diễn ra theo trình tự bốn pha lần lượt là suy thoái, khủng hoảng, phục hồi, và hưng thịnh. Tuy nhiên, trong nền kinh tế hiện đại, khủng hoảng theo nghĩa kinh tế tiêu điều, thất nghiệp lan tràn, các nhà máy đóng cửa hàng loạt,v.v...
Multiplant Economies / Tính Kinh Tế Nhờ Vận Hành Nhiều Nhà Máy

Multiplant Economies / Tính Kinh Tế Nhờ Vận Hành Nhiều Nhà Máy

09-10-2025

Là việc giảm được tổng chi phí trung bình nhờ vận hành nhiều hơn một nhà máy.
Hỗ trợ trực tuyến