Mô hình chiết khấu cổ tức là một mô hình tương đối tốt để định giá cổ phần. Lý thuyết này phát biểu rằng giá trị cổ phần của một công ty là giá trị của toàn bộ dòng tiền tương lai mà bạn kì vọng một doanh nghiệp tạo ra sau khi đã được điều chỉnh bằng một tỉ lệ chiết khấu hợp lý. công thức tính như sau: Trong đó Value of stock : giá trị cổ phầnDividend per share : cổ tức trên một cổ phầnDiscount rate: tỉ lệ chiết khấuDivident growth rate: tốc độ tăng cổ tức. Vấn đề cốt lõi trong lý thuyết này đó là cổ phần của bất cứ công ty nào cũng có trị giá không vượt quá những khoản cổ tức mà nó sẽ đem lại cho nhà đầu tư trong hiện tại và tương lai. Theo lý thuyết DDM, cổ tức là dòng tiền mà các cổ đông sẽ thu về trong tương lai, tất nhiên là có tính tới giá trị của tiền tệ theo thời gian. Để đánh giá một công ty thông qua việc sử dụng mô hình DDM, bạn cần phải tính giá trị khoản cổ tức mà công ty sẽ trả trong năm tới. Có nhiều mô hình chiết khấu cổ tức trong đó có hai loại chính là mô hình cổ tức không tăng trưởng và mô hình cổ tức tăng theo thời gian. Xét một ví dụ đơn giản: giả sử rằng một công ty trả cổ tức 1$/năm, bạn sẽ tự hỏi rằng liệu bạn có sẵn sàng mua cổ phiếu của công ty này không? Giả sử rằng tỉ lệ thu nhập kì vọng là 5%, khi đó theo mô hình DDM có tốc độ tăng cổ tức bằng 0, giá trị của doanh nghiệp này là 1/5% = 20$Khiếm khuyết trong mô hình 1là ở chỗ khi tiến hành đầu tư vào một doanh nghiệp, bao giờ nhà đầu tư cũng hi vọng rằng doanh nghiệp này sẽ tăng trưởng qua thời gian. Nếu nhà đầu tư cũng suy nghĩ như vậy trong trường hợp trên thì mẫu số sẽ tương đương với hiệu số của tỉ lệ thu nhập kì vọng và tốc độ tăng trưởng của cổ tức. Giả sử rằng tốc độ tăng cổ tức là 3% một năm, khi đó giá trị của công ty sẽ là 1/ (5%-3%) = 50$. Mô hình DDM cổ điển này thường phát huy tác dụng tốt nhất khi được sử dụng để đánh giá các công ty mạnh, có mức trả cổ tức cao. Những người ủng hộ lý thuyết này thì cho rằng chỉ có lượng cổ tức trong tương lai mới có thể cho bạn những đánh giá đúng đắn về giá trị nội tại của doanh nghiệp. Mua cổ phần với bất kì lý do gì, ví dụ mua với mức giá cao hơn 20 lần so với thu nhập có thể kiếm được từ công ty vì tin rằng hôm sau sẽ có người mua lại với giá gấp 30 lần thì chỉ đơn thuần là một sự đầu cơ. Trên thực tế, mô hình DDM đòi hỏi một sự nghiên cứu tỉ mỉ để có thể dự đoán được mức cổ tức trong tương lai. Thậm chí khi bạn áp dụng mô hình này với công ty trả cổ tức đều đặn, thường xuyên, bạn vẫn cần đưa ra rất nhiều giả thuyết về hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai. Trong đó giả định lớn nhất trong mô hình DDM là giả định rằng cổ tức của doanh nghiệp là tương đối ổn định, không tăng hoặc tăng đều. Thêm vào đó các yếu tố đầu vào để tính toán giá trị thì thường xuyên thay đổi và tiềm ẩn những sai số. Tuy nhiên, ngay cả đối với các cổ phần đáng tin cậy, ổn định, thì việc dự đoán chính xác việc trả cổ tức trong các năm tới cũng là công việc vô cùng khó khăn.
Dividend Discount Model_Ddm / Mô Hình Chiết Khấu Cổ Tức
Thuật Ngữ
09-10-2025
Chia sẻ bài viết
Nội Dung Liên Quan Đến Thuật Ngữ
Cash Card / Thẻ Tiền Mặt
09-10-2025
Thẻ nhựa được gán sẵn một giá trị từ trước. Thẻ tiền mặt cũng giống tiền mặt, chúng không được tích hợp các biện pháp bảo đảm vì thế nếu bị mất hoặc đánh cắp, chúng có thể được sử dụng bởi bất cứ ai.Interval Estimation / Ước Lượng Khoảng
09-10-2025
Ước lượng một khoảng trong đó giá trị của THAM SỐ thực tế có khả năng rơi vào.Interstate Commerce Act / Đạo Luật Thương Mại Liên Tiểu Bang
09-10-2025
Đạo luật này thiết lập Ủy ban Thương mại giữa các bang (ICC) ở Mỹ vào năm 1887. ICC là tổ chức điều tiết liên bang đầu tiên.Cash Balance Plan / Kế Hoạch Số Dư Tiền Mặt
09-10-2025
Kế hoạch số dư tiền mặt có nghĩa là kế hoạch sinh lãi xác định, trong đó nó duy trì các tài khoản cá nhân giả định của người lao động. Và số tiền trong tài khoản cá nhân giả định này được chủ doanh nghiệp đóng cho các nhân viên hàng năm.Dividend Covered Ratio / Hệ Số Bảo Chứng Tiền Lãi Cổ Phiếu
09-10-2025
Hệ số bảo chứng tiền lãi cổ phiếu (còn gọi là Hệ số đảm bảo cơ hội - Times covered ratio) là phép đo lợi nhuận của một doanh nghiệp bảo chứng khoản thanh toán cổ tức theo cổ phiếu, được biểu hiện bằng lợi nhuận sau thuế so với các khoản lãi cổ tức phải trả. Ví dụ, nếu một khoản lợi nhuận sau thuế là 100,000$ và các khoản tiền thanh toán cổ tức là 50,000$ thì hệ số bảo chứng tiền lãi cổ phiếu sẽ là ½.
