Trong nền sản xuất hàng hóa, tỷ giá hối đoái chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố và biến động một cách tự phát. Nhà nước có thể áp dụng nhiều phương pháp để điều chỉnh tỷ giá hối đoái mà một trong số đó là chính sách chiết khấu. Chính sách chiết khấu là chính sách của Ngân hàng Trung ương dùng cách thay đổi tỷ suất chiết khấu của ngân hàng mình để điều chỉnh tỷ giá hối đoái trên thị trường. Khi tỷ giá lên cao đến mức nguy hiểm muốn làm cho tỷ giá hạ xuống thì Ngân hàng Trung ương nâng cao tỷ suất chiết khấu lên, do đó lãi suất trên thị trường cũng tăng lên, kết quả là vốn ngắn hạn trên thị trường thế giới sẽ chảy vào nước mình để thu lãi cao. Lượng vốn chảy vào sẽ góp phần làm dịu đi sự căng thẳng của cầu ngoại hối, do đó tỷ giá hối đoái có xu hướng giảm xuống. Thực chất chính sách chiết khấu cũng chỉ có ảnh hưởng nhất định và có hạn đối với tỷ giá hói đoái, bởi lẽ giữa tỷ giá và lãi suất không có mối quan hệ nhân quả, lãi suất không phải là nhân tố duy nhất quyết định sự vận động của dòng vốn giữa các nước. Lãi suất biến động do tác động của quan hệ cung cầu vốn cho vay và nó xoay quanh trục tỷ suất lợi nhuận bình quân. Còn tỷ giá hối đoái thì do quan hệ cung cầu về ngoại hối quyết định mà quan hệ này lại do tình hình thặng dư hay thiếu hụt cán cân thanh toán. Như vậy nhân tố hình thành lãi suất và tỷ giá không giống nhau, do đó biến động của lãi suất không nhất định đưa đến sự biến động tương ứng của tỷ giá. Lãi suất lên cao có thể thu hút vốn ngắn hạn của các nước ngoài chảy vào, nhưng nếu tình hình kinh tế chính trị trong nước không ổn định thì không nhất thiết điều đó sẽ xảy ra. Bởi vì trong đầu tư vấn đề dặt ra trước tiên là sự đảm bảo an oàn cho số vốn đó chứ không phải là thu về được lãi nhiều. Tuy nhiên chính sách chiết khấu vẫn là một công cụ vĩ mô nhiều nước sử dụng để can thiệp vào sự biến động của tỷ giá. Nếu tình hình tiền tệ của các nước cơ bản như nhau thì rõ ràng phương hướng đầu tư ngắn hạn vẫn hướng vào những nước có lãi suất cao, do đó không thể coi thường chính sách chiết khấu, nó vẫn có một ý nghĩa quan trọng trong hệ thống chính sách vĩ mô của ngân hàng Trung ương. Ví dụ, năm 1964, Ngân hàng Anh quốc nâng tỷ suất chiết khấu từ 5% lên 7%, do đó đã thu được vốn ngắn hạn chảy vào Anh góp phần giải quyết những khó khăn của cán cân thanh toán quốc tế Anh. Ngoài ra chính sách chiết khấu còn được hiểu một cách rất chính thống là chính sách điều chỉnh tỷ lệ chiết khấucủa Ngân hàng Trung ương đối với ngân hàng thương mại. Theo chính sách này Ngân hàng Trung ương sẽ nâng cao hay hạ thấp lãi suất của khoản vốn vay ngắn hạn của ngân hàng thương mại tại ngân hàng Trung ương, từ đó gián tiếp giảm hoặc tăng lượng cung tiền trong nền kinh tế.
Discount Policy / Chính Sách Chiết Khấu
Thuật Ngữ
09-10-2025
Chia sẻ bài viết
Nội Dung Liên Quan Đến Thuật Ngữ
Infant Industry Argument For Protection / Luận Điểm Bảo Hộ Ngành Công Nghiệp Non Trẻ
09-10-2025
Một trong những lý lẽ bảo hộ lâu đời nhất cho rằng một ngành công nghiệp là mới đối với đất nước và nhỏ hơn quy mô tối ưu có thể không có khả năg đứng vững trong cạnh tranh với nước ngoài trong thời kỳ non trẻ.Infant Industry / Ngành Công Nghiệp Non Trẻ
09-10-2025
- Trong tiếng Anh, từ "infant" có nghĩa đen là người mới vào nghề, "lính mới". Nó có thể được hiểu là ở thời kỳ sơ khai.Inequality / Bất Đẳng Thức
09-10-2025
Quan hệ nói lên một hàm số của một biến (hay một tập hợp các biến) lớn hơn hay nhỏ hơn một số nào đó.Discount Market / Thị Trường Chiết Khấu
09-10-2025
Theo nghĩa hẹp là thị trường London mà tại đó hối phiếu thương mại và hối phiếu bộ tài chính được mua bán.Industry / Ngành Công Nghiệp
09-10-2025
Một ngành trong khuôn khổ CƠ CẤU THỊ TRƯỜNG CẠNH TRANH HOÀN HẢO có thể được định nghĩa là một số lớn doanh nghiệp cạnh tranh với nhau trong việc sản xuất MỘT SẢN PHẨM ĐỒNG NHẤT.
